CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp và góp phần đạt được mục tiêu của doanh nghiệp [9, tr12]. Như vậy, bản chất của tài chính vẫn là các quan hệ kinh tế tiền tệ thông qua hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn.
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có thể chia thành bốn nhóm sau: + Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính. Mối quan hệ này thường thể hiện qua việc doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh: từ ngân hàng thông qua vay, từ công chúng qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, từ các định chế tài chính khác. + Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, quan hệ này thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trong thanh toán các khoản thuế theo luật định.
+ Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường khác như: thị trường hàng hoá và dịch vụ. Mối quan hệ này thể hiện qua việc doanh nghiệp tận dụng các khoản tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đó còn là các quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với các khách hàng để kích thích hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. + Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: thể hiện qua quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người lao động về lương, các khoản tạm 8 ứng.; quan hệ về phân phối vốn giữa doanh nghiệp với các đơn vị thành viên, quan hệ phân phối và sử dụng quỹ hình thành từ lợi nhuận để lại.
Như vậy, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bởi quá trình hình thành, phân phối và sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Với bản chất như trên, tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các vai trò này thể hiện cụ thể như sau: -Tài chính doanh nghiệp là công cụ khai thác, thu hút vốn cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. -Tài chính doanh nghiệp là công cụ trong việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả. -Tài chính doanh nghiệp là công cụ để kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Tài chính doanh nghiệp là công cụ giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp Để thể hiện tốt vai trò của mình, quản lý tài chính cần tiến hành các nội dung cụ thể như sau: • Tham gia thẩm định các dự án kinh doanh và dự án đầu tư. • Xác định nhu cầu vốn, huy động vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh. • Tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả, quản lý chặt chẽ chi phí và thu nhập.
• Phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp. • Kiểm soát thường xuyên hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện phân tích doanh nghiệp. • Dự báo và kế hoạch hóa tài chính doanh nghiệp. CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý tài liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác, hình thành hệ thống các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính và dự đoán tiềm lực tài chính trong tương lai.[15,tr12] Hoạt động tài chính doanh nghiệp liên quan đến nhiều đối tượng, từ các nhà quản trị ở doanh nghiệp đến các nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước. nên mục tiêu phân tích của mỗi đối tượng khác nhau. Các phương pháp phân tích a. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng.
Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo ba nguyên tắc sau: tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh và kỹ thuật so sánh [15, tr44]. - Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh. Tùy theo mục tiêu phân tích tài chính, nhà phân tích thường sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trước, sử dụng số liệu trung bình ngành hay sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp. Thông thường, các nhà quản trị doanh nghiệp chọn gốc so sánh này để xây dựng chiến lược hoạt động cho tổ chức của mình.
- Điều kiện so sánh yêu cầu các chỉ tiêu phân tích phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, có cùng phương pháp tính toán và có đơn vị đo lường như nhau. -Kỹ thuật so sánh có ba trường hợp cơ bản. Thứ nhất, xác định mức biến động tuyệt đối và tương đối của từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính. Thứ hai là một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính được chọn làm qui mô chung và các chỉ 10 tiêu có liên quan sẽ tính theo tỷ lệ phần trăm trên chỉ tiêu qui mô chung đó.
Trường hợp thứ ba là thiết kế các chỉ tiêu có dạng tỷ số. Phương pháp loại trừ Phương pháp này được sử dụng trong phân tích tài chính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu tài chính, giả định các nhân tố còn lại không thay đổi. Phương pháp phân tích này còn là công cụ hỗ trợ quá trình ra quyết định. [15, tr49] Chẳng hạn, chỉ tiêu khả năng sinh lời của tài sản (ROA) thường được tính như sau: Lợi nhuận ROA = x 100% Tổng tài sản bình quân Nếu dừng lại ở phép so sánh thì chưa thể hiện rõ nhân tố nào tác động đến khả năng sinh lời của tài sản.
Tuy nhiên, khi xây dựng chỉ tiêu này trong quan hệ với hiệu suất sử dụng tài sản và khả năng sinh lời từ doanh thu thì chỉ tiêu ROA được chi tiết như sau: Doanh thu thuần Lợi nhuận ROA = x Tổng tài sản bình quân Doanh thu thuần = Hiệu suất sử dụng tài sản x Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Với phương pháp loại trừ, nhà phân tích sẽ thấy được nhân tố nào ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng sinh lời tài sản, qua đó phát hiện những lợi thế (hay bất lợi) trong hoạt động của doanh nghiệp và định hướng hoạt động trong kỳ đến. Phương pháp cân đối liên hệ Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối giữa tài sản và nguồn vốn; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả; 11 cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm.Cụ thể là các cân đối cơ bản: Tổng tài sản = TSNH + TSDH Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - Dòng tiền ra Dựa vào những cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động của chỉ tiêu phân tích. Chẳng hạn, với biến động của tổng tài sản giữa hai thời điểm, phương pháp này sẽ cho thấy loại tài sản nào (hàng tồn kho, nợ phải thu, TSCĐ.) biến động ảnh hưởng đến biến động tổng tài sản của doanh nghiệp. Như vậy, dựa vào biến động của từng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy đủ hơn.
Phương pháp phân tích tương quan Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với nhau. Chẳng hạn, mối tương quan giữa doanh thu (trên Báo cáo lãi lỗ) với các khoản nợ phải thu khách hàng, với hàng tồn kho (trên BCĐKT). Thông thường, khi doanh thu của đơn vị càng tăng thì số dư các khoản nợ phải thu cũng gia tăng, hoặc doanh thu tăng dẫn đến yêu cầu về dự trữ hàng cho kinh doanh gia tăng. Một trường hợp khác là tương quan giữa chỉ tiêu ‘Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản’ với chỉ tiêu ‘Nguyên giá TSCĐ’ ở doanh nghiệp.
Cả hai số liệu này đều trình bày trên BCĐKT. Một khi trị giá các khoản đầu tư XDCB gia tăng thường phản ánh doanh nghiệp có tiềm lực về cơ sở hạ tầng trong thời gian đến. Phân tích tương quan sẽ đánh giá tính hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỷ số tài chính được phù hợp hơn và phục vụ công tác dự báo tài chính ở doanh nghiệp [15,tr51] 12 Trên đây là những phương pháp kỹ thuật thường được vận dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, vận dụng phương pháp phân tích thích hợp cho nội dung và chỉ tiêu phân tích nào với các đánh giá tổng hợp được xem như là nghệ thuật của nhà phân tích tài chính.
Mỗi nhà phân tích bằng kinh nghiệm nghề nghiệp với khả năng tổ chức dữ liệu, khả năng chẩn đoán và tổng hợp các vấn đề tài chính trong một môi trường ‘mở ’ sẽ đưa ra bức tranh về tài chính doanh nghiệp. Kết quả phân tích đó là cơ sở cho các quyết định ở doanh nghiệp. Nội dung phân tích tình hình tài chính Đứng trên giác độ của nhà quản lý, nội dung phân tích tài chính phải đáp ứng được yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Công tác phân tích phải đánh giá được hoạt động, xác định được điểm mạnh và điểm yếu.
Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của ban Tổng giám đốc, dự báo tài chính về kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý. Đối với các chủ sở hữu, thì họ quan tâm đến khả năng sinh lãi của doanh nghiệp, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Nội dung phân tích đáp ứng được yêu cầu của hai đối tượng này bao gồm: a. Phân tích khái quát tình hình tài chính và cân bằng tài chính tại Tổng công ty Thứ nhất, phân tích sự biến động và cơ cấu tài sản: - Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn tương đối của tổng số tài sản cũng như chi tiết đối với từng loại tài sản.
Qua đó thấy được sự biến động về quy mô, năng lực kinh doanh của Công ty. - Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không?