Chương I: Tổng quan về lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương. Chương 2: Thực trạng của công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương tại thành phố Đà Nẵng Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện công tác công tác lập, phân bỏ và giao dự toán ngân sách địa phương tại thành phố Đà Nẵng Chuong 1 TONG QUAN VE LAP, PHAN BO VA GIAO DU’ TOAN NGAN SACH DIA PHUONG 1. Téng quan về ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương: 1.1 Ngân sách nhà nước 1.1 Khải niệm, đặc điểm NSNN Phạm trù tải chính nhà nước xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của nhà nước, nhưng thuật ngữ “ngân sách nhà nước” chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ thứ 17 trở lại đây. Sự ra đời ngân sách nhà nước đã làm thay đổi rất lớn về phương thức quản lý tài chính nhà nước.
Khởi đầu là Anh quốc áp dụng thể chế ngân sách nhà nước vào thế kỷ 17, kế đến là Mỹ và Pháp, sau đó mô hình nảy lan rộng đến các nước khác. Khái niệm ngân sách nhà nước phân ảnh những thể chế được xã hội thiết lập bằng hệ thống pháp luật nhằm. mục đích ấn định con số chỉ tiêu trong một năm mà nhà nước phải tìm kiếm nguồn để tài trợ; đồng thời nhà nước đưa ra những quy tắc về kế toán để theo. dõi chỉ tiết và chặt chẽ các khoản chỉ tiêu của nhả nước với mục đích là dé kiểm soát các khoản chỉ, tránh được sự phí phạm các khoản chỉ tiêu cho những hoạt động không được ghi vào trong ngân sách để sao cho chỉ tiêu của nhà nước được hợp pháp và có thẻ được tài trợ bằng những nguồn thu ôn định.
Hay nói cách khác, ngân sách nhà nước là một đạo luật tải chính cơ bản do quốc hội quyết định, thông qua đó các khoản thu, chỉ tài chính của nhà nước được thực hiện trong một niên khóa tài chính. (/2/, trang 211-213) Tuy nhiên cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm ngân sách nhà nước. Nhưng về hình thức, ngân sách nhà nước là các khoản thu, chỉ của nhà nước. Còn xét về nội dung, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ lợi ích kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tải chính giữa nhà nước, một chủ thẻ đặc biệt, với các chủ thể còn lại trong nền kinh tế.
Hơn nữa, ngân sách nhà nước còn là nguồn tài chính tập trung quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, thẻ hiện tiềm lực và sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước. Ngân sách nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ với mọi mặt kinh tế - chính trị - xã hội và quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của cả hệ thống tài chính quốc gia. Do vậy, quản lý và điều hành ngân sách nhà nước có tác động và chỉ phối trực tiếp đến mọi lĩnh vue trong nên kinh tế. Theo Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm đề bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
(/3J, trang 1) Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của ngân sách nhả nước như sau: ~ Ngân sách nhà nước là một bộ luật tài chính đặc biệt (yếu tố pháp lý), bởi lẽ trong ngân sách nhà nước, các thể chế của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan ( pháp, luật thuế,.) mặt khác, ban than ngân sách nhà nước cũng là bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hàng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế- xã hội có liên quan phải tuân thủ. ~ Ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu, chỉ (yếu tố vật chất). Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập ngân sách nhà nước và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách của chính phủ. Chính sách nào mà không được dự kiến trong ngân sách thi sẽ không được thực hiện.
Chính vì lẽ đó, việc thông qua ngân sách nhà nước là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiệu sự nhất trí tròng Quốc hội về chính sách của nhà nước. Quốc hội mà không thông qua ngân sách nhà nước thì điều đó thể hiện sự thất bại của chính phủ về chính sách và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị. ~ Ngân sách nhà nước là một công cụ quản lý. Ngân sách nhả nước đưa ra danh mục các khoản thu mà chính phủ chỉ được phép thu và danh mục các khoản chỉ tiêu trong khuôn khổ ngân sách nhà nước được Quốc hội phê duyệt.
Đặc điểm này cho thấy, ngân sách nhà nước là công cụ giúp cho Quốc hội quản lý và kiểm soát chặt chẽ các khoản chỉ tiêu, thu nhập của chính phủ trong mỗi năm tài khóa. Ban chat NSNN Ngân sách nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ lâu. Là một công cụ Tài chính quan trọng của Nhà nước, ngân sách nhà nước xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền để Nhà nước và tiền để kinh tế hàng hoá- tiền tệ. Trong lịch sử loài người, Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội.
Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước đề làm phương tiện vật chất trang trải cho các chỉ phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội của Nhà nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối tông sản phẩm xã hội. kiện kinh tế hàng hoá - tiền tê, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay lược Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tiền tệ riêng có: ngân sách nhà nước. Như vậy, ngân sách nhà nước là ngân sách của Nhà nước, hay Nhà nước là chủ thê của ngân sách đó.
Trong thực tiễn, hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu (tạo lập) và chỉ tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tải chính vận động giữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước. Đó chính là bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước. Đứng sau các hoạt động thu, chỉ là mỗi quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thẻ kinh tế, xã hội. Nói cách khác, ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỳ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện đề thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
(/⁄j) Tom lai vé ban chất của NSNN, thì đẳng sau những con số thu, chỉ đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Nguyên tắc quản lý NSNN a. Nguyên tắc niên hạn Nguyên tắc này có thê được tóm tắt với 2 nội dung chính: (1) Mỗi năm Quốc hội phải thông qua ngân sách nhà nước một lần; (2) Chính phủ thi hành ngân sách nhà nước trong thời gian một năm. Sự phát triển của xã hội theo thể chế nền dân chủ chính trị, thực hiện ngân sách niên hạn lả đề tạo điều kiện cho Quốc hội và công chúng kiểm soát tình hình thu chi tài chính công được đều đặn và sát thực.
Mỗi năm Chính phủ thu bao nhiêu và chỉ cho cái gì, Quốc hội và công chúng cần phải bị. Thực hiện nguyên tắc này sẽ làm gia tăng quyền lực mạnh mẽ của Quốc hội trong việc kiểm soát Chính phủ. Quốc hội sẽ quyết định ngân sách nhà nước mỗi năm một lần. Nếu một năm nào đó mà Quốc hội chưa quyết định ngân sách, thì Chính phủ không có quyền thu, hay chỉ bắt kỳ một khoản tién nao, dù là nhỏ nhất.(/2J, trang 214-215) Quản lý ngân sách nhà nước phải xác định thời gian khởi đầu và thởi gian kết thúc để giúp cho Chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính.
của quốc gia, qua đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Nói chung, sự giới hạn ngân sách nhà nước hàng năm với dự toán các khoản thu chỉ chặt chẽ là nhằm làm cho nén tai chính công trở nên minh bạch và quản lý có trật tự. (/2J, trang 215) Tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia, năm ngân sách nhà nước có thể bắt đầu từ ngày 1-1 của năm dương lịch và kết thúc ngày 31-12 hoặc có thể bắt đầu từ ngày 1-4 và kết thúc ngày 31-3. Ngày nay các nước có khuynh hướng mở rộng ngân sách nhà nước vượt quá khuôn khô niên hạn, tức là thiết lập khuôn khổ ngân sách nhà nước.
Nguyên tắc đơn nhất Nguyên tắc này yêu cầu toàn bộ dự toán thu, dự toán chỉ cần được trình bày trong một văn kiện duy nhất. Nguyên tắc đơn nhất không chấp nhận việc lập ngân sách bằng nhiều văn kiện không tập trung. Chính phủ không được đệ trình ngân sách nhà nước trước Quốc hội bằng nhiều văn kiện khác nhau. Quốc hội chỉ xem xét và thông qua ngân sách nhả nước bằng một đạo luật duy nhất.
Nếu ngân sách nhà nước trình bảy tản mạn qua nhiều văn kiện khác nhau, thì sự kiểm soát của Quốc hội sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc lựa chọn các khoản chỉ tiêu có tính chiến lược ưu tiên. Sự tôn trọng nguyên tắc này giúp cho Quốc hội có cách nhìn toàn diện hơn về ngân sách nhà nước. Nguyên tắc đơn nhất cho Quốc hội biết được quy mô của ngân sách nhà nước, tổng thể nguồn thu và các khoản chỉ tiêu của chính phủ. Còn nếu ngân sách nhà nước được báo cáo bằng nhiề văn kiện khác nhau và đề biết tổng nguồn thu và tổng các khoản chỉ, Quốc hội phải tập hợp rải rác ở nhiều văn kiện khác, sau đó cộng lại thì đó là một việc làm rất phức tạp, tốn kém.
nhiều thời gian.