phần mở đầu và kết luận đƣợc chia làm 3 chƣơng : Chƣơng I: Những vấn đề chung về công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong các doanh nghiệp. Chƣơng II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Xí nghiệp cơ khí hàng hải miền Bắc. Chƣơng III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại xí nghiệp cơ khí hàng hải miền Bắc. Trong thời gian làm khoá luận tại Xí nghiệp cơ khí hàng hải miền Bắc đƣợc sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các cô chú phòng kế toán, ban lãnh đạo xí nghiệp và sự hƣớng dẫn, chỉ dạy của Thạc sĩ Phạm Thị Nga em đã có cơ hội đƣợc tiếp xúc tìm hiểu công tác kế toán tại công ty, đối chiếu với những lý luận đƣợc trang bị trên ghế nhà trƣờng từ đó đúc kết đƣợc những kiến thức và kinh nghiệm quý báu thể hiện trong bản khoá luận sau đây.
Do thời gian và trình độ có hạn nên khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc những ý kiến nhận xét và đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để bài khoá luận đƣợc hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hải Phòng, ngày 06 tháng 07 năm 2011 Sinh viên Nguyễn Thị Kim Oanh Sinh viên : Nguyễn Thị Kim Oanh _ Lớp QT1103K 10 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG.
Những quan điểm cơ bản về tiền lương. Khái niệm và nội dung cơ bản về tiền lƣơng. Trong cơ chế thị trƣờng với sự hoạt động của thị trƣờng sức lao động, sức lao động trở thành hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt. Giá cả sức lao động chính là tiền lƣơng, tiền công.
Đó là khoản tiền mà ngƣời chủ sử dụng sức lao động phải chi trả cho ngƣời lao động sau quá trình làm việc. Tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế, là kết quả của sự phân phối của cải trong xã hội ở mức cao. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cƣ trong xã hội, còn một bộ phận dân cƣ khác do không có vốn chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho những ngƣời có vốn và đổi lại họ nhận đƣợc một khoản tiền gọi là tiền lƣơng.
Tuy nhiên, cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, quan niệm về tiền lƣơng có những thay đổi : - Trong nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa, C.Mac chỉ rõ, tiền lƣơng là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài nhƣ giá cả lao động. - Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lƣơng đƣợc định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ, đƣợc nhà nƣớc phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lƣợng và chất lƣợng lao động mà họ cống hiến. - Trong nền kinh tế thị trƣờng, tiền lƣơng đƣợc hiểu là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thỏa thuận (theo hợp đồng lao động). Sinh viên : Nguyễn Thị Kim Oanh _ Lớp QT1103K 11 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Tại điều 55, chƣơng VI “ Tiền lƣơng” của Bộ luật lao động ban hành năm 1994 có ghi “Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc”.
Khái niệm tiền lƣơng có tình chất phổ quát hơn và cùng với nó là một loạt các khái niệm khác nhƣ: tiền lƣơng danh nghĩa, tiền lƣơng thực tế, tiền lƣơng tối thiểu. + Tiền lƣơng danh nghĩa : là khái niệm chỉ số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế, mọi mức lƣơng trả cho ngƣời lao động đều là tiền lƣơng danh nghĩa. + Tiền lƣơng thực tế : là số lƣợng tƣ liệu sinh hoạt và dịch vụ mà ngƣời lao động có thể mua đƣợc bằng lƣơng của mình sau khi đã khấu trừ các khoản trích theo lƣơng theo quy định của Nhà nƣớc.
Chỉ số tiền lƣơng thực tế tỉ lệ nghịch với chỉ số giá cả và tỉ lệ thuận với chỉ số tiền lƣơng danh nghĩa tại thời điểm xác định. Trên thực tế, ngƣời lao động luôn quan tâm đến tiền lƣơng thực tế hơn là tiền lƣơng danh nghĩa. + Tiền lƣơng tối thiểu : là tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động giản đơn nhất trong điều kiện bình thƣờng của xã hội. Tiền lƣơng tối thiểu nhằm đảm bảo cho những nhu cầu thiết yếu ở mức tối thiểu, là “cái ngƣỡng” cuối cùng để từ đó xây dựng các mức lƣơng khác tạo thành hệ thống tiền lƣơng của một ngành nào đó hoặc hệ thống tiền lƣơng chung thống nhất của một nƣớc, là căn cứ để hoạch đinh chính sách tiền lƣơng.
Nó đƣợc coi là yếu tố hết sức quan trọng của chính sách tiền lƣơng. Bản chất và chức năng của tiền lƣơng. Bản chất của tiền lương: Tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền giá cả sức lao động. Mặt khác, tiền lƣơng còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần làm việc hăng hái của ngƣời lao Sinh viên : Nguyễn Thị Kim Oanh _ Lớp QT1103K 12 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP động, kích thích và tạo mối quan tâm của ngƣời lao động đến kết quả công việc của họ.
Vì vậy, tiền lƣơng là một nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động. Chức năng của tiền lương: * Chức năng thƣớc đo giá trị : Tiền lƣơng là giá cả sức lao động, khoản tiền chúng ta nhận đƣợc sau quá trình lao động, vì thế tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của sức lao động. Nên tiền lƣơng phải là thƣớc đo giá trị sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động. Đây là một chức năng quan trọng của tiền lƣơng.
Sức lao động là khả năng làm việc của con ngƣời thể hiện qua thể lực và trí lực. Do giá trị của sức lao động có xu hƣớng tăng qua các thời kì nên tiền lƣơng có xu hƣớng tăng qua các thời kì. * Chức năng tái sản xuất sức lao động: - Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động cũng cần đƣợc tái tạo. Quá trình tái sản xuất sức lao động đƣợc thực hiện bởi việc trả công cho ngƣời lao động thông qua tiền lƣơng.
- Sức lao dộng là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn đƣợc hoàn thiện và phát triển nhờ thƣờng xuyên đƣợc duy trì và khôi phục. Nhƣ vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho ngƣời lao động có một số lƣợng tiền lƣơng sinh hoạt nhất định để họ có thể: + Duy trì và phát triển sức lao động của mình. + Sản xuất ra sức lao động mới. + Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kuyc năng lao động, tăng cƣờng chất lƣợng lao động.
* Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp: Mục đích cuối cùng của các nhà quản trị là lợi nhuận cao nhất. Để đạt đƣợc mục tiêu đó họ phải biết kết hợp nhịp nhàng và quản lý một các có nghệ thuật các yếu tố trong quá trinh kinh doanh. Ngƣời sử dụng lao động sẽ quản lý chặt chẽ về số lƣợng và chất lƣợng lao động của mình để trả công xứng đáng cho ngƣời lao động. Sinh viên : Nguyễn Thị Kim Oanh _ Lớp QT1103K 13 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP * Chức năng đòn bẩy kinh tế: - Khi đƣợc trả công xứng đáng thì ngƣời lao động sẽ làm việc tích cực, không ngừng hoàn thiện mình hơn và ngƣợc lại, nếu ngƣời lao động không đƣợc trả lƣơng xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp, thậm chí có thể có những cuộc đình công, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội.
- Ở một mức độ nhất định thì tiền lƣơng là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của ngƣời lao động trong gia đinh, tại doanh nghiệp cũng nhƣ ngoài xã hội. Do đó, cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của ngƣời lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tiền lƣơng trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. * Chức năng điều tiết lao động: Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, Nhà nƣớc thƣờng hệ thống bằng lƣơng, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ đó tiền lƣơng đã góp phần tạo ra cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội.
* Chức năng thƣớc đo hao phí lao động xã hội: Khi tiền lƣơng đƣợc trả cho ngƣời lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lƣơng cho toàn thể ngƣời lao động. Điều này có ý nghĩa trong công tác thống kê, giúp Nhà nƣớc hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lƣơng tối thiểu để đảm bảo thực tế luôn phù hợp với chính sách của Nhà nƣớc. * Chức năng tích lũy (để dành): Tích lũy là sự cần thiết khách quan đối với mọi ngƣời lao động. Trên thực tế thì tiền lƣơng của ngƣời lao động nói chung không đủ chi dùng, vì thế, không có điều kiện để dành.
Tuy nhiên, Nhà nƣớc vẫn buộc ngƣời lao động phải để dành thông qua đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc.