CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ TIỀN LƯƠNG 1.1 Khái niệm tiền lương Theo tổ chức lao động Quốc tế(ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Việt Nam cũng đã vận dụng linh hoạt vào điều kiện kinh tế - xã hội nước ta, theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, lương (tiền lương) được quy định là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Như vậy, dưới góc độ pháp luật lao động: “Tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng hiệu quả công việc và điều kiện lao động, được xác định theo sự thỏa thuận hợp pháp hai bên trong hợp đồng lao động hoặc theo quy định của pháp luật.” Về bản chất, tiền lương trong cơ chế thị trường gồm 3 trụ cột: + Tiền lương là giá cả sức lao động được biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động.
+ Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu trên thị trường lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống do pháp luật quy định. + Tiền lương được xác định thông qua sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động, là khoản phải trả cho người lao động về công sức lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chức năng của tiền lương • Chức năng tái sản sản xuất sức lao động Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động cũng cần được tái tạo, với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ có sự tái sản xuất sức lao động khác nhau. Quá trình này thể hiện rõ ở sự tiến bộ của xã hội và sự tác động của khoa học- công nghệ.
Quy trình tái sản xuất sức lao động được thể hiện qua việc trả công cho người lao động Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Vân – QT2301K 4 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quản lý và Công nghệ Hải Phòng bằng tiền lương. Như vậy, bản chất của tái sản xuất sức lao động là việc đảo bảo cho người lao động có một số tiền lương nhất định dùng cho sinh hoạt để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động của mình, sản xuất ra sức lao động mới, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kỹ năng lao động và tăng cường chất lượng lao động. • Là thước đo giá trị Khi tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc ta có thể xác định được hao phí lao động của toàn thể người lao động thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động. Điều này cũng có nghĩa là công tác thống kê sẽ giúp cho nhà nước có thể hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu nhằm đảm bảo hợp lý thực tế.
• Kích thích lao động Trong quá trình lao động, lợi ích về kinh tế của người lao động là động lực sản xuất. Khi người lao động được trả công xứng đáng thì họ sẽ làm việc tích cực, không ngừng hoàn thiện mình. Ngược lại, nếu người lao động không được trả công xứng đáng sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho doanh nghiệp, thậm chí sẽ xảy ra đình công gây xáo trộn về chính trị, bất ổn xã hội. Việc tổ chức tiền lương và tiền công sẽ thúc đẩy, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động để đảm bảo công bằng trên cơ sở thực hiện tiền lương.
• Chức năng điều tiết lao động Trong việc thực hiện kế hoạch cân đối giữa các ngành, nghề ở các khu vực trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, khu vực để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ vậy, tiền lương cũng góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý để phát triển xã hội. • Chức năng tích lũy Đảm bảo tiền lương cho người lao động không chỉ giúp họ duy trì được cuộc sống hằng ngày mà còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc. • Công cụ quản lý Nhà nước Nhà nước ban hành Luật lao động để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động để từ đó tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa và ổn định nhằm góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp về năng suất, chất lượng lao động, tiến bộ xã hội,… Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Vân – QT2301K 5 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quản lý và Công nghệ Hải Phòng 1.
Ý nghĩa của tiền lương Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu để họ đảm bảo cho cuộc sống. Bên cạnh tiền lương, một số khoản thu nhập khác mà người lao động được nhận có thể kể đến như: Trợ cấp BHXH, tiền tăng ca, tiền thưởng KPI… Trong doanh nghiệp, chi phí tiền lương là một bộ phận quan trọng hình thành nên giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Việc tổ chức sử dụng lao động hợp lý, thanh toán tiền lương và các khoản liên quan đúng hạn cho người lao động là một động lực quan trọng để người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, hăng say làm việc từ đó nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương a) Quan hệ cung cầu lao động Khi cung về lao động lớn hơn nhu cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm và ngược lại, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng và khi cung về lao động bằng cầu về lao động thì thị trường lao động đạt được trạng thái cân bằng và tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng. b) Môi trường doanh nghiệp Cách chính sách về lương, phụ cấp, giá thành được doanh nghiệp áp dụng một cách triệt để sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng công việc. Bên cạnh đó, khả năng tài chính và cơ cầu tổ chức của doanh nghiệp cũng tác động mạnh tới mức tiền lương. c) Bản thân người lao động Trình độ người lao động sẽ tỷ lệ thuận với mức tiền lương mà người lao động nhận được.
Người lao động có trình độ cao trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp hoặc có trình độ cao trong công việc, lĩnh vực làm việc thì sẽ được mức lương cao và ngược lại. Ngoài ra, thâm niên công tác, kinh nghiệm làm việc cũng như mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm cũng ảnh hưởng nhiều tới mức lương của người lao động. d) Giá trị công việc Các công việc có mức hấp dẫn cao, không nguy hiềm sẽ thu hút được nhiều lao động thì doanh nghiệp sẽ không bị sức ép tăng lương. Ngược lại, nếu công việc nhàm chán, không có sức hấp dẫn hoặc có yếu tố nguy hiểm thì doanh nghiệp phải có biện pháp đưa ra mức lương cao hơn hoặc phù hợp với yêu cầu của người lao động.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Vân – QT2301K 6 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quản lý và Công nghệ Hải Phòng 1. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp Do tiền lương được trả căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng của người lao động nên việc tính và trả lương cho người lao động được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm, điều kiện sản xuất kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Trên thực tế nước ta thường áp dụng các hình thức trả lương theo thời gian, trả lương theo sản phẩm và trả lương khoán. Trả lương theo thời gian Theo hình thức này, tiền lương trả cho người lao động được tính theo thời gian làm việc, cấp bậc và thang lương theo tiêu chuẩn nhà nước quy định.
Tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp, việc tính lương theo thời gian lao động có thể tiến hành trả lương theo thời gian giản đơn hay trả lương theo thời gian có thưởng. − Trả lương theo thời gian giản đơn: Chế độ trả lương này là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được của một người lao động do mức lương cấp bậc cao thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định. Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề nghiệp vụ có thể có một thang lương riêng. Trong mỗi tháng lương lại tuỳ theo trình độ nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn mà chia thành nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.
Chế độ tiền lương này chỉ áp dụng khi doanh nghiệp ghi chép đầy đủ thời gian làm việc và có đơn giá tiền lương thời gian. Tiền lương thời gian là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc cấp bậc hay chức danh và thang bậc lương theo quy định. * Tiền lương tháng : Là tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định gồm tiền lương, cấp bậc và các khoản phụ cấp như phụ cấp độc hại, phụ cấp trách nhiệm. Lương tháng = Mức lương cơ bản * ( Hệ số lương + Hệ số phụ cấp lương) * Tiền lương tuần : Là hình thức trả lương cho một tuần làm việc.
Tiền lương Tiền lương tháng x 12 tháng = tuần phải trả 52 tuần Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Vân – QT2301K 7 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quản lý và Công nghệ Hải Phòng * Tiền lương ngày : Là tiền lương trả cho một ngày làm việc, áp dụng cho những công việc có thẻ chấm công theo ngày, việc tính lương theo hình thức này sẽ khuyến khích người lao động đi làm đầy đủ.