CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực Nguồn lực doanh nghiệp nói chung là sự tổng hòa giữa nguồn lực hữu hình có thể chi phối trong kinh doanh như: nhân, tài, vật lực và nguồn lực vô hình như thời gian, thông tin kiến thức. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không chỉ cần có tài sản nhiều mà còn cần phải có nhân lực giỏi.
Khái niệm nhân lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân, cho rằng: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người đủ điều kiện để tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), giáo trình quản trị nhân sự khẳng định: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”.
Trong đó, thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính và thời gian công tác.Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,. của từng người. Trong các tổ chức hay doanh nghiệp, cũng có thể hiểu nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả các thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Trong phạm vi luận văn này, khái niệm nhân lực được hiểu là: nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. Khái niệm nguồn nhân lực Cơ cấu của doanh nghiệp, tổ chức là một tập hợp những cá nhân có trình độ khác nhau tham gia vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo hệ thống và có sự liên kết. Nói chung những cá nhân có khả năng lao động (xét về mặt tổ thể lực và trí lực) thì được coi là nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ chức đó. Sự thành công hay thất bại của nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã chỉ ra rằng nguồn lực quan trọng nhất trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp là con người.Con người hay nói cách khác là nguồn nhân lực tổ chức, doanh nghiệp, nó đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý nhân sự.
Nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo nghĩa rộng (định nghĩa của Liên hiệp quốc), nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi) Theo Beng, Fischer & Dornhusch (1955) thì nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người có khả năng tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Theo Viện nghiên cứu và phát triển Kinh tế - Xã hội, nguồn nhân lực hay nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc.
Từ những quan điểm trên, quan điểm của luận văn: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương, một tổ chức sẵn sàng thăm gia một công việc nào đó. Khái niệm quản trị nhân lực Công tác quản trị nhân lực giúp tìm kiếm, phát triển và duy trì đội ngũ nhân viên và quản lý chất lượng - những người tham gia tích cực vào sự thành công của công ty. Một trong những yêu cầu chính của quản trị nhân lực là tìm ra đúng người, đúng số lượng và đúng thời điểm trên các điều kiện thỏa mãn cả doanh nghiệp và nhân viên mới. Khi lựa chọn được những người có kỹ năng thích hợp làm việc ở đúng vị trí thì cả nhân viên lẫn công ty đều có lợi.
Một cách khái quát nhất, quản trị nhân lực được hiểu là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản trị nhân lực đến các khách thể quản trị nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu quản trị nhân lực đã đề ra. Song có nhiều cách hiểu về quản trị nhân lực. Khái niệm quản trị nhân lực có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì quản trị nhân lực bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Đi sâu vào tác nghiệp của quản trị nhân lực, người ta còn có thể hiểu quản trị nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó.
Quản trị nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt,.) giữa con người và các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ, đối tượng lao động, năng lượng,.) trong quá trình tạo của cải vật chất, tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người nhằm duy trì, bảo vệ, sử dụng và phát triển tiềm năng vô hạn của con người. Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu quản trị nhân lực. Hay nói cách khác, mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào cũng là nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhân sự của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra. Dù ở góc độ nào thì quản trị nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức về mặt số lượng và chất lượng.
13 Trong khuôn khổ này, quản trị nhân lực được hiểu là: Những hoạt động liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả liên quan đến con người đảm bảo cho việc hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp một cách tốt nhất. Khái niệm đánh giá nhân lực Đánh giá là một sự miêu tả chính thức về giá trị, tính hiệu quả hay mức độ thành công của một sự vật, sự việc hay con người. Mọi hoạt động của con người bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần thường xuyên được đánh giá. Mục đích của việc đánh giá là nhằm tổng kết lại những điều đạt được và chưa đạt được và nguyên nhân là gì.
Từ đó tiếp tục điều chỉnh hoạt động hướng tới trạng thái tốt hơn. Đánh giá nhân lực là một hoạt động quan trọng trong quản trị nhân lực. Nó giúp cho doanh nghiệp có cơ sở để hoạch định, tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ nhân sự. Đánh giá đúng năng lực của nhân viên quyết định một phần không nhỏ sự thành công của doanh nghiệp.
Dưới góc độ nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm đánh giá nhân lực là: Đánh giá nhân lực là một hoạt động bao gồm đánh giá năng lực của nhân lực và đánh giá kết quả thực hiện của nhân lực. Trong đó, đánh giá năng lực nhân lực dựa vào yêu cầu mà công việc đưa ra, còn đánh giá kết quả thực hiện lại dựa trên cơ sở là mục tiêu mà công việc hướng tới. Khái niệm công tác đánh giá nhân lực Công tác đánh giá nhân lực là một công tác quan trọng trong quản trị nhân lực. Công tác đánh giá nhân lực có ảnh hưởng rất nhiều đến các công tác khác trong quản trị nhân lực.
Tại các nước phát triển, công tác đánh giá nhân lực tại các doanh nghiệp hay tổ chức được đánh giá là rất quan trọng. Họ có nhiều công trình nghiên cứu về công tác đánh giá nhân lực và đã áp dụng vào thực tiễn đời sống. Những năm trước, tại Việt Nam, công tác đánh giá nhân lực vẫn còn chưa được nhiều nhà quản trị quan tâm. Tuy nhiên gần đây, đứng trước tình hình cạnh tranh gay gắt cũng như xu hướng phát triển để theo kịp thế giới, công tác đánh giá nhân lực đang dần được đánh giá cao đúng với vị trí của nó và được nhiều doanh nghiệp, tổ chức đánh áp dụng.
14 Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm công tác đánh giá nhân lực như sau: Công tác đánh giá nhân lực là một nội dung của quản trị nhân sự và nó bao gồm các hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là: Thiết kế đánh giá nhân lực, triển khai đánh giá nhân lực, sử dụng kết quả đánh giá nhân lực. Nội dung công tác đánh giá nhân lực Công tác đánh giá nhân lực bao gồm nhiều nội dung có mối quan hệ chặt chẽ bao gồm: Thiết kế đánh giá nhân lực, triển khai đánh giá nhân lực và sử dụng kết quả đánh giá nhân lực (xem hình 1. Thiết kế đánh giá nhân lực 1. Xác định mục tiêu của đánh giá nhân lực Đánh giá nhân lực tại mỗi doanh nghiệp được coi là quan trọng hay không cũng một phần phụ thuộc vào mục tiêu của đánh giá nhân lực.
Thông thường, mục tiêu của đánh giá nhân lực thường bao gồm: - Là cơ sở để đưa ra mức thưởng phạt cũng như đề bạt thăng tiến cho mỗi nhân viên trong công ty.