đặt vấn đề công ty hoặc các SBU của nó phải cạnh tranh hoặc hợp tác ra sao trong một ngành KD cụ thể (Thomas Wheelen,2000). Về loại hình, CLKD có thể bao gồm CL chi phí thấp, CL khác biệt hóa hoặc CL tập trung hóa. Với khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát: “CLKD còn được gọi là CL cạnh tranh hay đơn giản là CL định vị, được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để các lập các vị thế CL nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của một công ty. Khái niệm hoạch định chiến lược kinh doanh: “Hoạch định chiến lược là một quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội/thách thức, điểm mạnh/điểm yếu bên ngoài và bên trong; đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các chiến lược để thay thế mà những vấn đề cụ thể trong đó được giải quyết theo một cách thức hợp lý” (M.Porter miêu tả hoạch định chiến lược như là mắt xích quan trọng đối với quá trình thực hiện.
Ông nói rằng không có bất cứ sự thay thế nào đối với hoạch định chiến lược. Nâng cao chất lượng sẽ là vô nghĩa nếu như không biết đặc Luan van 9 tính liên quan tới lĩnh vực cạnh tranh. Khuyến khích hợp tác văn hóa sẽ vô ích nếu như văn hóa không được đặt ngang với phương pháp cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan hệ giữa các doanh nghiệp mà không có cái nhìn chiến lược thì sẽ thất bại nhiều hơn là thành công.
Và trái với ý kiến chung, các doanh nghiệp của Nhật đã sử dụng hoạch định chiến lược. Những người thành công là những người rất tin vào kế hoạch và là những người nghiên cứu về nên công nghiệp và đối thủ cạnh tranh của họ. Trong bài báo “The Anatomy of strategic thinking”, J.Roger Morrison và James G.Lee (1989) đã nói về hoạch định chiến lược: “Nhà hoạch định chiến lược giỏi là người có một ý tưởng kinh doanh rõ ràng, dựa trên kiến thức kinh tế và những yếu tố thành công trong công nghiệp”. Hoạch định chiến lược hợp lý sẽ giúp cho DN nắm thế chủ động trong cạnh tranh.
Hoạch định chiến lược tốt cũng đề cập tới cả những tình huống sẽ thay đổi theo thời gian như thế nào.Thương trường như chiến trường nên ngày xưa có chiến thuật quân sự thì bây giờ có CLKD. Đó là việc của người lãnh đạo phải chỉ huy, dự đoán phản ứng của đối thủ và khả năng thành công. Mục đích mà các nhà quản trị giỏi hướng tới là luôn đi trước đối thủ cạnh tranh một bước. Họ vạch ra các đường đi nước bước và tính trước các phương án phòng trừ cho các tác động có thể xảy ra.
Dù quyết định chiến lược như thế nào thì nó cũng ảnh hưởng tới sự tồn tại của DN, do đó cần có hoạch định chiến lược. Bernard Denburg – Chủ tịch A&E nhấn mạnh: “Hoạch định chiến lược là quá trình tiếp nối của việc quản lý chiến lược phù hợp với các mục đích chiến lược và các giá trị về văn hóa của DN” 1. Vị trí và vai trò của hoạch định chiến lược trong quản trị chiến lược Đã từ lâu công việc hoạch định chiến lược trong quản trị chiến lược được xem là bước khởi đầu của một quá trình kinh doanh. Trong giai đoạn hiện nay với cơ chế thị trường, và hội nhập quốc tế thì công tác hoạch định chiến lược kinh doanh trở nên quan trọng bậc nhất do vai trò của nó trong sự tồn tại và phát triển của DN.
Công tác hoạch định chiến lược kinh doanh là giai đoạn đầu tiên trong quản trị CL, giữ vai trò định hướng cho hoạt động của DN trong điều kiên áp lực cạnh tranh gay gắt hiện nay. Luan van 10 Hoạch định chiến lược kinh doanh tạo nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện những kế hoạch ngắn hạn, giúp cho việc thực thi các chính sách cụ thể trong mỗi DN. Hoạch định chiến lược kinh doanh là cơ sở để đánh giá cụ thể hiệu quả của công tác quản trị.3 Đặc điểm và các loại hình chiến lược kinh doanh Về loại hình, CLKD bao gồm các CL khác biệt hóa, CL chi phí thấp và chiến lược tập trung - CL khác biệt hóa: Chiến lược khác biệt hóa là chiến lược mà theo đó doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh dựa trên tính đặc thù của sản phẩm và dịch vụ cung cấp, được thị trường chấp nhận và đánh giá cao. Mục đích của chiến lược khác biệt hóa là đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ mà được người tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét của họ.
- CL chi phí thấp: Chiến lược chi phí thấp là việc giữ cho chi phí cung cấp hàng hóa hay dịch vụ thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, đem lại giá trị mà khách hàng mong đợi ở mức chi phí có thể đảm bảo được khả năng sinh lợi thỏa đáng cho doanh nghiệp. Qua thời gian, chi phí sẽ ngày càng giảm nhờ khối lượng bán hàng tăng lên theo tính kinh tế của quy mô. Chiến lược này phù hợp cho những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn và có khả năng giảm chi phí trong quá trình hoạt động. Nó cho phép doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh bằng cách sản xuất hàng hoá và dịch vụ với giá thành thấp hơn.
- Chiến lược tập trung là chiến lược cạnh tranh thứ ba. Bản chất của chiến lược tập trung là phục vụ nhu cầu của một nhóm hay phân khúc thị trường nào đó được thông qua các yếu tố địa lý, đối tượng khách hàng hoặc tính chất sản phẩm.Ví dụ, về mặt địa lý có thể được xác định theo vùng hoặc thậm chí theo vị trí. Việc chọn một phân khúc khách hàng có thể là phục vụ chỉ cho người rất giàu, người rất trẻ tuổi, hay người rất thích phiêu lưu. Tập trung vào chỉ một phân đoạn sản phẩm của tuyến sản phẩm ví dụ như chỉ tập trung vào thực phẩm rau củ quả, hoặc vào ô tô rất Luan van 11 nhanh, một phong cách thời trang riêng hay một loại hàng cụ thể như quần áo, hay kính mát.
Cùng với việc theo đuổi chiến lược tập trung công ty phải cố gắng bằng cách nào đó thực hiện chuyên môn hoá. Mô hình nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên mô hình sau: Xây dựng tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chiến lược Phân tích môi trường bên ngoài DN(môi trường vi mô, môi Phân tích môi trường bên trong DN (năng trường vĩ mô) lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh) Phân tích tình thế và lựa chọnchiến lược kinh doanh (Ma trận TOWS) Hoạch định nội dung chiến lược kinh doanh: Thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh) Hoạch đinh các lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh Hoạch định ngân sách chiến lược Hoạch định việc kiểm tra đánh giá chiến lược Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu hoạch định chiến lược kinh doanh (Nguồn : Tác giả) Luan van 12 1. Nội dung nghiên cứu 1. Sáng tạo tầm nhìn chiến lược, Hoạch định sứ mạng kinh doanh và thiết lập các mục tiêu chiến lược a.
Tầm nhìn chiến lược Tầm nhìn (vision) gợi ra một hướng về tương lai,về khát vọng của DN về những điều mà DN muốn đạt tới. Tầm nhìn biểu hiện triển vọng tương lai với một số diễn giải ẩn ý hoặc rõ ràng về việc tại sao tổ chức phải hướng tới tương lai đó. Hoạch định một tầm nhìn chiến lược là nhiệm vụ quan trọng đặt ra đầu tiên của các nhà lãnh đạo và quản trị cấp cao. Họ cần phải hướng tới tương lai, nhận thức về định hướng tương lai và bản chất kinh doanh, hướng dẫn tổ chức phải làm gì và trở thành công ty như thế nào.
Tầm nhìn cực kỳ quan trọng vì nó tượng trưng sự tưởng tượng của con người trong tổ chức và động viên mọi nỗ lực của tổ chức để đạt được các mục đích, sự nghiệp và ý tưởng cao hơn. Tầm nhìn chiến lược được cấu thành bởi hai yếu tố chính là: các giá trị cốt lõi và hình dung về tương lai Bất kỳ một tầm nhìn nào cũng phải thể hiện được các giá trị cốt lõi mà DN đang hướng đến. Giá trị cốt lõi được hiểu là những nguyên lý, nguyên tắc cơ bản và bất biến của một DN. Thành phần thứ hai cầu thành nên tầm nhìn chiến lược của DN là viễn cảnh tương lai – đó là giấc mơ, hoài bão, hy vọng của DN về những điều mình sẽ trở thành.
Viễn cảnh tương lai phản ảnh rõ ràng về một kết quả trong tương lai mà DN sẽ đạt được, là tâm điểm của mọi sự tập trung và nỗ lực trong toàn DN. Sứ mạng kinh doanh và mục tiêu chiến lược Mỗi doanh nghiệp đều có nhiệm vụ hay sứ mạng nhất định, tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng đến nhiệm vụ đó, làm định hướng cho việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Sứ mạng của doanh nghiệp là một khái niệm dùng để chỉ mục đích của doanh nghiệp, lý do và ý nghĩa của sự ra đời và tồn tại của nó. Sứ mạng của doanh nghiệp chính là bản tuyên ngôn của doanh nghiệp đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích của doanh nghiệp đối với xã hội.
Thực chất bản tuyên bố về sứ mạng của doanh nghiệp tập trung làm sáng tỏ một vấn đề hết sức quan trọng: “công việc kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích gì?” Phạm vi của bản tuyên bố về sứ mạng Luan van 13 thường liên quan đến sản phẩm, thị trường khách hàng công nghệ và những triết lý của doanh nghiệp theo đuổi. Như vậy có thể nói chính bản tuyên bố về sứ mạng cho thấy ý nghĩa tồn tại của một tổ chức, những cái mà họ muốn trở thành, những khách hàng mà họ muốn phục vụ, những phương thức mà họ hoạt động. Nói tới mục tiêu chiến lược là nói tới các mục tiêu dài hạn nhằm đạt được chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những mục tiêu mang lại kết quả mong muốn của DN trong một thời gian dài.
Mục tiêu dài hạn thường được xây dựng cho những vấn đề: Khả năng sinh lời, năng suất, định vị cạnh tranh, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ, trách nhiệm với xã hội. Một số mục tiêu chiến lược kinh doanh điển hình gồm có các mục tiêu về mặt định tính và định lượng. Các mục tiêu định lượng chủ yếu: - Chỉ tiêu ROS : Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần (ROS) = Lợi nhuận sau thuế/ Doanh thu thuần. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần (ROS) được tính bằng cách lấy Lợi nhuận sau thuế chia cho Doanh thu thuần.