Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ. Khái niệm chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân, cũng nhƣ đứng trƣớc yêu cầu cấp thiết của việc sửa đổi những quy định về tổ chức bộ máy Nhà nƣớc trong Hiến pháp 1992 hiện nay, việc làm rõ những vấn đề lý luận về chế định khởi kiện sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các cơ chế bảo vệ pháp luật trong hoạt động TTDS nói chung và bảo vệ quyền dân sự cơ bản của công dân nói riêng trong việc tiếp cận với công lý.
Bởi lẽ, mặc dù quyền khởi kiện là một quyền năng dân sự cơ bản nhất của chủ thể pháp luật khi tham gia các giao lƣu dân sự, nhƣng hiện nay việc thực hiện quyền này của các chủ thể quyền vẫn còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do cách hiểu luật thiếu thống nhất tại hệ thống tòa hai cấp nhƣ những vấn đề về thẩm quyền, về thời hiệu… Cũng nhƣ sự chồng chéo của các văn bản pháp luật nội dung đã làm cho các chủ thể quyền khởi kiện không biết phải căn cứ vào văn bản pháp luật nào để xác định căn cứ khởi kiện. Những khó khăn này kéo dài trong suột thời gian qua, mặc dù các văn bản luật đã nhiều lần đƣợc ban hành, đƣợc sửa đổi bổ sung nhƣng vẫn chƣa có sự thống nhất triệt để. Việc nghiên cứu so sánh lịch sử TTDS thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền khởi kiện –hay tố quyền đã đƣợc biết đến từ thời xa xƣa của xã hội loài ngƣời. Chẳng hạn, ở nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣớc Công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng là công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nƣớc khi mà ngƣời đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tƣ tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó); còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ thì quyền khởi kiện cũng đƣợc ghi nhận trong các vụ án động chạm đến lợi ích cá nhân của tầng lớp trên trong xã hội.
Tại xã hội phong kiến Việt Nam, quyền khởi kiện cũng đƣợc thừa nhận và quy định cụ thể trong những Chiếu dụ của nhà vua, cũng nhƣ đƣợc thể hiện chi tiết và sâu sắc trong Luật Gia Long và Luật Hồng Đức. Cùng với thời gian, quyền khởi kiện đƣợc hình thành và hoàn thiện dần dần qua từng giai đoạn lịch sử, và đến hôm nay nó là một chế định pháp luật độc lập đƣợc thừa nhận trong Hiến pháp và trong luật TTDS. Về mặt lập pháp, trong thời kì đầu hình thành pháp luật ở nƣớc ta thì khái niệm “quyền khởi kiện “ không hề có trong pháp luật, mà những tính chất của quyền này đã đƣợc ghi nhận dƣới những tên gọi khác nhau nhƣ thời kỳ Lý- Trần – Hồ thì hoạt động khởi kiện đƣợc ghi nhận dƣới cụm từ “việc kiện tụng”, hay trong Luật Gia Long và Luật Hồng Đức thì hoạt động khởi kiện đƣợc ghi nhận dƣới cụm từ “việc thưa kiện”. Cụm từ “quyền khởi kiện” chỉ chính thức đƣợc ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 1 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) theo đó: “Công dân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân bảo về quyền lợi hợp pháp của mình”.
BLTTDS năm 2004 ra đời là một bƣớc đánh dấu quan trọng cho quá trình phát triển của TTDS Việt Nam. Từ việc chỉ quy định dƣới hình thức pháp lệnh, nhƣng nội dung của pháp luật TTDS đã đƣợc pháp điển hóa bằng hình thức Bộ luật 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã thực sự tạo ra một cơ chế giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật. Một trong những điểm mới của BLTTDS 2004 là việc đƣa ra khái niệm vụ việc dân sự, khi mà trƣớc đó trong tất cả các văn bản pháp luật về TTDS chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Trƣớc khi BLTTDS 2004 ra đời, khái niệm vụ án dân sự đƣợc hiểu là tất cả những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không phân biệt đó là vụ án thuộc loại gì và thuộc đối tƣợng điều chỉnh của ngành luật nội dung nào.
Điều này đƣợc thể hiện ngay tại Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm 2002, theo đó: "Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật". Ngay cả các pháp lệnh thủ tục giải quyết cũng đều xác định tên gọi chung của những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các vụ án nhƣ: PLTTGQCVADS năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) năm 1994. Theo khái niệm trên thì không có sự phân biệt vụ án dân sự có tranh chấp nhƣ: tranh chấp thừa kế, tranh chấp hợp đồng và những vụ án dân sự không có tranh chấp nhƣ: yêu cầu xác định công dân mất tích, xác định công dân đã chết, thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, kể từ ngày BLTTDS 2004 có hiệu lực (ngày 01/01/2005), khái niệm vụ án dân sự đƣợc thay thế bằng khái niệm vụ việc dân sự.
Nhƣ vậy, sau khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực, thủ tục giải quyết vụ án dân sự trƣớc đây đã trở thành thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Theo Điều 1 BLTTDS năm 2004 thì vụ án dân sự gồm: “các tranh chấp về dân sự; các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại; các tranh chấp về lao động”. Và vụ việc dân sự bao gồm: “các yêu cầu về dân sự; các yêu cầu về hôn nhân và gia đình; các yêu cầu về kinh doanh, thương mại và các yêu cầu về lao động”. Tiêu chí để phân biệt giữa vụ án dân sự 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và việc dân sự chính là tình chất có tranh chấp hay không có tranh chấp.
BLTTDS năm 2004 không khái quát lên khái niệm về vụ án dân sự mà định nghĩa khái niệm này theo phƣơng thức liệt kê, và có thể nói việc liệt kê loại việc nào đƣợc xác định là vụ án dân sự và loại việc nào đƣợc xác định là vụ việc dân sự trong BLTTDS năm 2004 đã tƣơng đối đầy đủ và chi tiết nhƣ tại Điều 1 BLTTDS năm 2004 đã ghi nhận: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự)”. Chính từ đây, khái niệm về chế định khởi kiện vụ án dân sự đã đƣợc hình thành và đang ngày càng hoàn thiện hơn để đảm bảo quyền lợi dân sự hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Theo Từ điển Luật học trang 76 thì: “Chế định pháp luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội giống nhau trong phạm vi một ngành luật”. Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu Chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong TTDS Việt Nam là: “Tổng hợp các quy phạm pháp luật TTDS điều chỉnh các quan hệ giữa Tòa án với các chủ thể tố tụng khác phát sinh trong quá trình khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự”.
Những quy phạm này đƣợc quy định thành một chƣơng riêng trong BLTTDS 2004 với 17 điều (từ Điều 161 đến Điều 178) quy định chi tiết những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa nguyên đơn, đại diện của nguyên đơn khi tiến hành quyền khởi kiện của mình nhƣ những quy định về chủ thể khởi kiện; về thời hiệu khởi kiện; về nội dung khởi kiện; về hình thức khởi kiện… Cũng nhƣ quy định về 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ của Tòa án và nguyên đơn, đại diện của nguyên đơn khi tiến hành thụ lý vụ án dân sự nhƣ: Thụ lý đơn khởi kiện; trả lại đơn khởi kiện… Theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì: “Nguyên đơn trong vụ án dân sư là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công công, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”. Nhƣ vậy, quan hệ pháp luật TTDS đƣợc hình thành khi có hoạt động khởi kiện của chủ thể quan hệ pháp luật Dân sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong trƣờng hợp giả thiết những quyền đó bị xâm phạm. Dƣới góc độ xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc thừa nhận quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật là một trong những quy định quan trọng nhằm đảm bảo thực thi công lý cũng nhƣ đảm bảo cho công dân tiếp cận công lý.