MỞ ĐẦU : Cùng với sự tăng nhanh của tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), nhiều công ty xuyên quốc gia đã đầu tư vào Việt Nam. Từ đây, tạo cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có nhiều cơ hội sản xuất, kinh doanh với các công ty xuyên quốc gia mà phần lớn là sản xuất cho thị trường quốc tế nên đã giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào mạng lưới sản xuất, kinh doanh toàn cầu. Sự phát triển của kỹ thuật thông tin và các kỹ thuật cao tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện được những bước phát triển nhảy vọt. Những cơ hội và thách thức tồn tại song song, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đứng trước cơ hội lớn và đồng thời cũng đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt nhất từ trước tới nay.
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào nguồn lực bên trong mà còn phải dựa vào nguồn lực bên ngoài. Trước những yếu tố khách quan của môi trường kinh doanh: thuận lợi cũng có và những mối đe dọa cũng tồn tại song hành, vậy doanh nghiệp cần phải biết cách tạo cho mình một nét khác biệt để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Lợi thế này sẽ có được khi doanh nghiệp thực sự hoạch định được một chiến lược kinh doanh có chất lượng, việc hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển mạnh trên thương trường, ngược lại với những doanh nghiệp không hoạch định chiến lược kinh doanh bài bản hay hoạch định chiến lược kinh doanh không phù hợp sẽ dẫn đến thất bại trên thương trường. Ngày nay, hầu hết doanh nghiệp đã xem việc hoạch định chiến lược kinh doanh là yếu tố sống còn của mình.
Tuy nhiên để doanh nghiệp đạt được giá trị thương hiệu trên thị trường, ngoài những kế hoạch kinh doanh ngắn hạn doanh nghiệp cần phải có tầm nhìn xa và những dự báo cho tương lai và phải cụ thể hóa HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẬP ĐOÀN TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN: 2008 -2020 GVHD: PGS TS.TRẦN VĂN BÌNH 8 HVTH: PHẠM VĂN BÁU bằng việc hoạch định một chiến lược kinh doanh mang tính dài hạn. Trong quá trình thực hiện chiến lược, do tác động của môi trường sẽ dẫn đến một số khác biệt so với yêu cầu ban đầu nhà quản trị đã đề ra, vì vậy cần phải có sự hiệu chỉnh kịp thời cho chiến lược phù hợp với thực tế. Thành công của doanh nghiệp bắt nguồn từ hiệu quả của hoạch định chiến lược kinh doanh và việc hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp được bắt nguồn từ năng lực và tầm nhìn của người lãnh đạo.1Chiến lược kinh doanh: Thuật ngữ chiến lược đã xuất hiện từ xa xưa và được nói nhiều trong lĩnh vực quân sự, trong những cuộc chiến tranh thuật ngữ chiến lược được nhắc đến thường xuyên và được hiểu là phương thức để dành lợi thế trước địch thủ. Ngày nay, thuật ngữ chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh được các chuyên gia kinh tế đưa ra như sau: Nhà chiến lược cạnh tranh (Mỹ) Michael Porter: “Chiến lược kinh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh” K.Ohmae: “Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại điều thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định ranh giới của sự thỏa hiệp”.
Chiến lược kinh doanh: là chiến lược nhằm đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp. Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích của chiến lược là đảm bảo thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh.2Hoạch định chiến lược kinh doanh : Hoạch định chiến lược kinh doanh: là một quá trình qua đó các chiến lược được hình thành. Hình thành chiến lược dựa trên cạnh tranh nội bộ thì không phải là hoạch định chiến lược kinh doanh. Phân tích và định hướng chiến lược phải có tính chất lâu dài.
HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẬP ĐOÀN TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN: 2008 -2020 GVHD: PGS TS.TRẦN VĂN BÌNH 9 HVTH: PHẠM VĂN BÁU Hoạch định chiến lược kinh doanh tiến hành toàn bộ công ty hoặc ít ra cũng là những bộ phận quan trọng nhất. Năng lực và trách nhiệm của hoạch định chiến lược thuộc về những nhà quản lý cao nhất của công ty. Hoạch định chiến lược là đảm bảo sự thực hiện lâu dài những mục đích và mục tiêu trọng yếu của doanh nghiệp.2 Ý nghĩa của hoạch định chiến lược kinh doanh : Nhận thấy rõ mục đích hướng đi làm cơ sở cho mọi kế hoạch hành động cụ thể. Nhận biết được các cơ hội và nguy cơ trong tương lai, thích nghi, giảm thiểu sự tác động xấu từ môi trường, tận dụng những cơ hội của môi trường khi nó xuất hiện.
Tạo ra thế chủ động tác động đến các môi trường, thậm chí thay đổi luật chơi trên thương trường, tránh tình trạng thụ động. Phân phối một cách có hiệu quả về thời gian, nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau. Khuyến khích doanh nghiệp hướng về tương lai, phát huy sự năng động sáng tạo, ngăn chặn những tư tưởng ngại thay đổi, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tăng cường tính tập thể. Tăng vị thế cạnh tranh, cải thiện các chỉ tiêu về doanh số, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh.3 Phân loại chiến lược kinh doanh : Mỗi chiến lược đều hoạch định tương lai phát triển của tổ chức.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vạch ra mục tiêu phát triển doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài, đó chính là chiến lược tổng quát. Chiến lược tổng quát bao gồm các nội dung sau (còn gọi là các mục tiêu chiến lược): Tăng khả năng sinh lợi, tạo thế lực trên thị trường và bảo đảm an toàn trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp có thể đặt cho mình cùng lúc cả ba mục tiêu chiến lược nói trên cho một khoảng thời gian. Cũng có thể chỉ đặt một hay hai trong ba mục tiêu đó. Để đạt được mục tiêu chiến lược tổng quát có thể vạch ra và tổ chức thực HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẬP ĐOÀN TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN: 2008 -2020 GVHD: PGS TS.TRẦN VĂN BÌNH 10 HVTH: PHẠM VĂN BÁU hiện các chiến lược bộ phận.
Chiến lược bộ phận lại bao gồm nhiều loại chiến lược dựa vào bản thân doanh nghiệp hay khách hàng để đạt được mục tiêu tổng quát, hoặc chiến lược Marketing. Dựa vào căn cứ xây dựng chiến lược có thể chia ra 3 loại chiến lược bộ phận: Chiến lược dựa vào khách hàng Chiến lược dựa vào đối thủ cạnh tranh Chiến lược dựa vào thế mạnh của công ty Dựa vào nội dung của chiến lược có thể chia ra: Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng Chiến lược tập trung vào các yếu tố then chốt Chiến lược tạo ra các ưu thế tương đối Chiến lược sáng tạo tấn công Căn cứ vào các hoạt động tiếp thị có hệ thống có thể chia ra: Chiến lược sản phẩm Chiến lược giá Chiến lược phân phối Chiến lược giao tiếp khuyếch trương Như vậy, bốn chính sách Marketing cũng là những chiến lược bộ phận theo cách phân loại Marketing - Mix. Cùng lúc doanh nghiệp có thể áp dụng những chiến lược bộ phân được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Nếu hoạch định chiến lược bộ phận “khai thác khả năng tiềm tàng” thì lại phải hoạch định giải pháp thực hiện chiến lược.
Bản thân chiến lược này (còn gọi là chiến lược tìm kiếm các cơ hội thuận lợi của thị trường) lại bao gồm giải pháp sau: Xâm nhập thị trường Phát triển thị trường (phát triển thêm thị trường mới trong, ngoài nước) Phát triển sản phẩm (đưa sản phẩm mới ra thị trường) Đa dạng hoá ngành kinh doanh (cùng lúc kinh doanh nhiều ngành hàng khác nhau). HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẬP ĐOÀN TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN: 2008 -2020 GVHD: PGS TS.TRẦN VĂN BÌNH 11 HVTH: PHẠM VĂN BÁU 1.4 Phân loại chiến lược kinh doanh theo chu kỳ doanh nghiệp: 1.1Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn mới hình thành: Giai đoạn này các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân như công ty hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân thường có quy mô nhỏ có thể nghiên cứu các chiến lược sau để lựa chọn cho mình chiến lược phù hợp. Chiến lược dựa vào nguồn lực tại chỗ : Chiến lược này là dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực kinh tế, nguồn lực xã hội và nhân văn tại địa phương để cung cấp cho xã hội những sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Phù hợp cho các doanh nghiệp khai thác quặng, mỏ, chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp.
Chiến lược dựa vào nhà máy lớn : Chiến lược này là doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm nhận việc sản xuất phụ tùng cho nhà máy lớn, hình thành quan hệ phân công chuyên môn hóa giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhà máy lớn, doanh nghiệp nhỏ sẽ là vệ tinh của các nhà máy lớn. Trong quá trình hợp tác với nhà máy lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần cố gắng duy trì địa vị tự chủ của mình. Phát triển thực lực của mình, năng lực nghiên cứu và sáng tạo. Điều này giúp doanh nghiệp tự khẳng định và đứng vững trên thị trường.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có thể sử dụng nguồn lực vô hình của nhà máy lớn như thương hiệu nổi tiếng, công nghệ tiên tiến để sản xuất sản phẩm (gia công sản phẩm cho nhà máy lớn). Chiến lược lợi dụng khe hở (chiến lược thị trường ngách) : Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể lợi dụng đặc điểm của mình là quy mô nhỏ, kinh doanh linh hoạt tiến vào những thị trường nhỏ mà các nhà máy lớn không kinh doanh. Những sản phẩm áp dụng chiến lược này là: Chu kỳ sản phẩm ngắn, công nghệ đơn giản, chu kỳ sản xuất ngắn, cần ít vốn, đối thủ cạnh tranh ít chú ý. Chiến lược thị trường cục bộ : Chiến lược này có nghĩa là doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm thị trường địa phương, lợi dụng ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ là gần gũi thị trường, cung HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẬP ĐOÀN TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN: 2008 -2020 GVHD: PGS TS.TRẦN VĂN BÌNH 12 HVTH: PHẠM VĂN BÁU cấp sản phẩm và dịch vụ cho thị trường tại chỗ.
Các doanh nghiệp thủ công thích hợp với chiến lược này.2Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn phát triển : a.