CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án cấp sơ thẩm 1. Khái niệm về hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án cấp sơ thẩm 1.
Khái niệm về hòa giải Trong xã hội, con người gắn kết với nhau bởi những mối quan hệ rất đa dạng, phức tạp, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột phát sinh giữa con người với con người là hiện tượng xã hội mang tính khách quan, là một mặt của đời sống xã hội. Chính vì vậy để có thể duy trì được trật tự của xã hội, củng cố các mối quan hệ đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết những xung đột xã hội đó, trong đó phổ biến là: thương lượng; hòa giải; trọng tài; giải quyết thông qua thủ tục hành chính, thủ tục tố tụng tại Tòa án. Trong số những phương thức giải quyết mâu thuẫn đó hòa giải là một phương thức giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội rất hiệu quả. Theo Từ điển tiếng Việt, hòa giải là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”1 hay “làm cho ổn thỏa tình trạng mâu thuẫn xích mích giữa hai bên”2.
Với cách giải thích này nêu lên mục đích và phương thức hòa giải xong mang tính chung chung không thể hiện được đặc thù của hòa giải có tính chất pháp lý. Theo từ điển luật học thì hòa giải được hiểu là: “Tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn mà biến thành việc hình sự”3 Dưới góc độ thực tiễn, một số quan niệm cho rằng hòa giải là một thủ tục, cách thức, hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ bất đồng, tranh chấp. Dưới góc độ pháp lý, hòa giải cũng có thể hiểu là một chế định pháp luật quy định trình tự, thủ tục để giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, HNGĐ… hay hòa giải là một thủ tục mang tính tố tụng tại tòa án, hòa giải là một thủ tục tố tụng để đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa cũng như đảm bảo tính thống nhất của quá trình giải quyết vụ án … 1 50, tr.466 Từ điển Tiếng Việt 2 52, tr.815 Từ điển Tiếng Việt 3 48, tr.208 Từ điển Luật học 6 Như vậy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về hòa giải tùy thuộc phạm vi, đối tượng hòa giải hay thủ tục, cách thức, chủ thể tiến hành hòa giải để đưa ra các khái niệm đặc thù.
Tựu chung, cho dù có các hình thức biểu đạt khác nhau, hòa giải vẫn có những đặc điểm chung có thể rút ra như sau: Thứ nhất, hòa giải là một biện pháp quan trọng được sử dụng với mục đích để giải quyết tranh chấp. Thứ hai, hòa giải phải có bên thứ ba làm bên trung gian để giúp cho các bên thỏa thuận với nhau về giải quyết mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp. Người có vai trò làm trung gian phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết.
Thứ ba, hoà giải trước hết phải là sự thoả thuận giữa các bên, thể hiện ý chí và quyền định đoạt của chính các bên tranh chấp. Nói cách khác, chủ thể của quan hệ hoà giải phải chính là các bên tranh chấp. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. Từ đó ta có thể nêu ra khái niệm tổng quát về hòa giải như sau: Hòa giải là cách thức tiến hành giải quyết mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian, khách quan, không đứng về phía bên tranh chấp nào, không có sự thiên vị hay bảo vệ quyền lượi cho bất cứ bên tranh chấp nào, đưa ra các phương án giúp các bên tranh chấp thống nhất cách giải quyết mâu thuẫn mà các bên chấp nhận.
Như vậy hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp). Hòa giải còn được hiểu ở góc độ rộng hơn là một quá trình, trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ. Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng. Ta có thể khái quát hình thức hòa giải thành hai loại là hòa giải theo thủ tục tố tụng và hòa giải ngoài thủ tục tố tụng.
Theo đó, hòa giải theo thủ tục tố tụng là hình thức hòa giải tuân theo trình tụ, thủ tục tố tụng theo pháp luật quy định buộc các bên tranh chấp cũng như chủ thể có chức năng hòa giải phải tuân thủ trong suốt quá trình hòa giải và công nhận kết quả hòa giải. Hòa giải tại Tòa án thuộc loại hòa giải theo thủ tục tố tụng. Đây cũng là trách nhiệm, chức năng của Tòa án theo quy định của 7 pháp luật, được quy định cụ thể, rõ ràng tại điều 10 BLTTDS 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề dân sự có tranh chấp. Hoạt động này của Tòa án được gọi là hòa giải tại Tòa án.
Như vậy: Hòa giải tại Tòa án là một thủ tục tố tụng do Tòa án nhân dân tiến hành nhằm mục đích giúp các đương sự lựa chọn, thống nhất được phương án giải quyết các tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng bao gồm: Tranh chấp về dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động) trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật và truyền thống đạo đức xã hội, nhằm đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên và được các bên đồng thuận, chấp nhận. Khái niệm về hòa giải các vụ, việc HNGĐ tại Tòa án cấp sơ thẩm Như vậy, ta thấy được rằng mục đích của việc giải quyết các mâu thuẫn quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân sự nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nói riêng là vừa phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa phải hàn gắn và giữ vững được tình đoàn kết và yêu thương trong họ. Vì vậy đây chính là một điểm khá quan trọng trong khi tiến hành hòa giải các vụ án hôn nhân và gia đình, bởi vụ án hôn nhân và gia đình ngày càng chiếm một lượng lớn trong các vụ án dân sự mà Tòa án phải giải quyết. Tranh chấp về hôn nhân gia đình có rất nhiều loại khác nhau nhưng không phải tranh chấp nào cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất cụ thể về những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. BLTTDS quy định về trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là việc dân sự). Như vậy, có thể hiểu vụ án dân sự nói chung, vụ án HNGĐ nói riêng là các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, quan hệ HNGĐ. Đặc điểm của vụ án HNGĐ là các bên đương sự có tranh chấp, trong đó có một bên đưa ra yêu cầu bên kia phải thực hiện một số nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ HNGĐ.
Bản chất của vụ án là có yếu tố tranh chấp, có sự mâu thuẫn quyền lợi giữa các bên đương sự. Trong khi đó việc dân sự nói chung (gồm việc HNGĐ) là một bên chủ thể yêu cầu Tòa án xác nhận một sự kiện 8 pháp lý phát sinh từ quan hệ HNGĐ như hủy kết hôn, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn… Về nguyên tắc, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không đặt ra vấn đề hòa giải đối với việc dân sự bao gồm cả việc HNGĐ mà chỉ tiến hành hòa giải vụ án dân sự bao gồm cả án HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động và dân sự. Điều này xuất phát từ bản chất của vụ án là có tranh chấp xảy ra giữa các bên và các bên không tự mình giải quyết được tranh chấp, còn việc dân sự là trường hợp các bên không có tranh chấp nhưng thống nhất yêu cầu tòa án giải quyết với hình thức công nhận hay không công nhận quyền của các đương sự hay sự kiện pháp lý nào đó. Tuy nhiên, quan hệ pháp luật HNGĐ là quan hệ mang tính đặc thù gắn liền với yếu tố nhân thân, không chỉ hòa giải để đạt được thỏa thuận giữa các bên nhằm giải quyết ỏn thỏa tranh chấp, mâu thuẫn mà còn hòa giải với mục đích để các đương sự đoàn tụ gia đình.
Do đó, hòa giải đặt ra không chỉ với giải quyết vụ án HNGĐ mà còn rất hiệu quả khi giải quyết việc HNGĐ như giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Cũng như các quan hệ dân sự khác, quan hệ HNGĐ dựa trên sự thống nhất, thỏa thuận của các bên tham gia. Do đó, cơ sở của hòa giải vụ, việc HNGĐ là sự tự nguyện, quyền tự định đoạt của các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp. Như vậy, hòa giải vụ, việc HNGĐ phải do chính các bên đương sự thực hiện, chỉ có các bên đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề cần giải quyết trong vụ án HNGĐ.