Pháp luật & thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã Bình Định

Luận văn phân tích quy định pháp luật và thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã. Nghiên cứu và kiến nghị qua thực tế tại Bình Định.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò của hòa giải tranh chấp đất đai tại xã

Hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã là một cơ chế quan trọng, được xem là bước tiền tố tụng bắt buộc đối với một số loại tranh chấp. Đây là phương thức giải quyết mâu thuẫn dựa trên sự thương lượng, thỏa thuận của các bên với sự trung gian của UBND cấp xã. Quy định này không chỉ giúp giảm tải áp lực cho các cơ quan hành chính và Tòa án mà còn góp phần duy trì sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Theo Luật Đất đai 2024 và các quy định trước đó, Nhà nước luôn khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc thông qua hòa giải ở cơ sở trước khi yêu cầu chính quyền can thiệp. Vai trò của UBND cấp xã là vô cùng thiết yếu vì đây là cấp chính quyền gần dân nhất, nắm rõ lịch sử, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tại địa phương. Theo Luận văn Thạc sĩ của Lê Quốc Cường, “việc hòa giải tranh chấp đất đai do UBND cấp xã thực hiện sẽ thuận lợi hơn” do có sẵn hồ sơ địa chính như sổ mục kê, bản đồ. Cơ chế này giúp giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn, đặc biệt là các tranh chấp ranh giới đất hay tranh chấp lối đi chung, tránh để vụ việc leo thang thành điểm nóng phức tạp. Thực tiễn cho thấy, nhiều địa phương đạt tỷ lệ hòa giải thành trên 80%, chứng tỏ hiệu quả của phương thức này trong việc ổn định an ninh chính trị và trật tự xã hội. Do đó, việc hiểu rõ cơ sở pháp lý và quy trình là điều kiện tiên quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

1.1. Khái niệm cốt lõi về tranh chấp đất đai và hòa giải

Tranh chấp đất đai được định nghĩa tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 là “tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Các dạng phổ biến bao gồm tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự (chuyển nhượng, thừa kế) và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Trong khi đó, hòa giải là quá trình các bên tự nguyện thương lượng, thỏa thuận để giải quyết mâu thuẫn thông qua một bên thứ ba trung gian. Hòa giải tại UBND cấp xã là một thủ tục pháp lý, khác với hòa giải ở tổ dân phố mang tính tự quản. Đây là bước đệm quan trọng trước khi các bên có thể khởi kiện ra tòa án.

1.2. Ý nghĩa của việc hòa giải tranh chấp tại cấp cơ sở

Hòa giải tại xã, phường, thị trấn mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn. Thứ nhất, nó giúp giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí hòa giải và thời gian so với thủ tục tố tụng tại Tòa án. Thứ hai, quá trình hòa giải giúp duy trì tình làng nghĩa xóm, hạn chế mâu thuẫn sâu sắc giữa các bên. Thứ ba, nó nâng cao ý thức pháp luật của người dân, đồng thời phát huy vai trò của chính quyền cơ sở và các đoàn thể trong việc quản lý đất đai. Cuối cùng, một biên bản hòa giải thành có thể là cơ sở để cấp mới hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mang lại sự ổn định lâu dài cho người sử dụng đất.

II. Những thách thức trong hòa giải tranh chấp đất đai thực tế

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và vướng mắc. Một trong những thách thức lớn nhất đến từ sự thiếu rõ ràng trong quy định pháp luật. Luận văn của Lê Quốc Cường chỉ ra rằng Luật Đất đai chưa xác định cụ thể “tranh chấp đất đai nào bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã”. Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Nhiều nơi từ chối hòa giải tranh chấp thừa kế đất đai hoặc tranh chấp hợp đồng, trong khi một số khác vẫn thụ lý. Thách thức thứ hai là năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở. Cán bộ địa chính xã và cán bộ tư pháp đôi khi còn hạn chế về chuyên môn, kỹ năng hòa giải, dẫn đến việc xác minh không đầy đủ hoặc định hướng giải quyết chưa thuyết phục. Ngoài ra, thành phần Hội đồng hòa giải cơ sở theo quy định (bao gồm các hộ dân sinh sống lâu đời) rất khó để triệu tập trong thực tế, đặc biệt ở khu vực đô thị. Nhiều người dân ngại va chạm, từ chối tham gia vì sợ “mích lòng” hàng xóm. Quá trình thẩm tra, xác minh nguồn gốc đất cũng gặp trở ngại do hồ sơ địa chính không đầy đủ, thất lạc hoặc có nhiều biến động qua các thời kỳ mà không được cập nhật kịp thời, gây khó khăn cho việc xác định ranh giới đất chính xác.

2.1. Các loại tranh chấp đất đai phổ biến nhất tại xã

Thực tiễn tại tỉnh Bình Định và nhiều địa phương khác cho thấy các loại tranh chấp phổ biến nhất bao gồm: tranh chấp ranh giới đất giữa các hộ liền kề; tranh chấp lối đi chung; tranh chấp thừa kế đất đai giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ. Bên cạnh đó, các tranh chấp phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng bằng giấy tay không tuân thủ quy định pháp luật cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ. Một số vụ việc phức tạp hơn liên quan đến việc lấn chiếm đất công, đất do UBND xã quản lý, đặt ra câu hỏi về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai khi một bên tranh chấp chính là cơ quan tổ chức hòa giải.

2.2. Vướng mắc pháp lý và năng lực của cán bộ hòa giải

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về thành phần Hội đồng hòa giải cơ sở nhưng tính khả thi không cao. Luận văn trích dẫn thực tế tại Bình Định cho thấy “gần như không xã, phường, thị trấn nào mời được thành phần này tham gia”. Hơn nữa, pháp luật chưa quy định chế tài cụ thể khi một bên cố tình vắng mặt nhiều lần, làm kéo dài thời hạn hòa giải. Năng lực của cán bộ địa chính xã và tư pháp cũng là một yếu tố quyết định. Nếu thiếu kiến thức chuyên sâu về luật và kỹ năng mềm, buổi hòa giải có thể không đạt hiệu quả, thậm chí làm mâu thuẫn thêm trầm trọng, dẫn đến tình trạng hòa giải không thành.

III. Hướng dẫn thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai chuẩn nhất

Để tiến hành hòa giải, các bên cần tuân thủ một quy trình chặt chẽ được quy định trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn. Đây là một trình tự pháp lý bắt buộc, kết quả của nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên và là điều kiện để tiến hành các bước pháp lý tiếp theo. Trình tự hòa giải bắt đầu từ việc nộp đơn và kết thúc bằng việc lập biên bản. Toàn bộ quy trình phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên liên quan. UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức, điều phối và đảm bảo buổi hòa giải diễn ra đúng pháp luật. Theo quy định, thời hạn hòa giải không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn. Trong suốt quá trình này, việc thu thập tài liệu, xác minh thực địa và lắng nghe ý kiến của các bên là những bước không thể thiếu để Hội đồng hòa giải cơ sở có đủ thông tin đưa ra nhận định và phương án thuyết phục nhất. Việc tuân thủ đúng thủ tục hòa giải đất đai không chỉ đảm bảo giá trị pháp lý cho kết quả mà còn giúp các bên tránh được những rủi ro khi phải khởi kiện ra tòa án sau này.

3.1. Bước 1 Nộp đơn yêu cầu hòa giải và thụ lý hồ sơ

Khi phát sinh tranh chấp và không thể tự giải quyết, một trong các bên sẽ gửi đơn yêu cầu hòa giải đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Mặc dù Nghị định 43 quy định hình thức là “đơn”, thực tế cho thấy cần linh hoạt hơn với những người không biết chữ hoặc gặp khó khăn trong việc viết đơn. Sau khi tiếp nhận, UBND cấp xã tiến hành thẩm tra sơ bộ để xác định tranh chấp có thuộc thẩm quyền hòa giải của mình hay không. Nếu đủ điều kiện, hồ sơ sẽ được thụ lý và bắt đầu quá trình xác minh, thu thập chứng cứ liên quan đến nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

3.2. Bước 2 Thẩm tra xác minh và thành lập Hội đồng hòa giải

Đây là giai đoạn then chốt. UBND cấp xã sẽ giao cán bộ địa chính xã và cán bộ tư pháp “thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan”. Đồng thời, Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định thành lập Hội đồng hòa giải cơ sở với các thành phần theo quy định. Hội đồng này có vai trò trung gian, phân tích đúng sai dựa trên cơ sở pháp lý và thực trạng sử dụng đất, từ đó đưa ra phương án hòa giải hợp tình, hợp lý để các bên xem xét.

3.3. Bước 3 Tổ chức buổi hòa giải và lập biên bản hòa giải

Buổi hòa giải được tổ chức với sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cuộc họp chỉ tiến hành khi các bên có mặt đầy đủ. Nếu một bên vắng mặt đến lần thứ hai, vụ việc được coi là hòa giải không thành. Diễn biến và kết quả của buổi hòa giải phải được ghi nhận chi tiết trong biên bản hòa giải. Biên bản phải có chữ ký của các bên, thành viên Hội đồng và đóng dấu của UBND cấp xã, sau đó được giao cho mỗi bên một bản để làm cơ sở thực hiện hoặc tiến hành các thủ tục pháp lý tiếp theo.

IV. Giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành và không thành

Kết quả của quá trình hòa giải tại UBND cấp xã được thể hiện qua biên bản hòa giải, và giá trị pháp lý của nó phụ thuộc vào việc các bên đạt được thỏa thuận hay không. Đây là một văn bản quan trọng, là căn cứ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tiếp theo liên quan đến quản lý đất đai. Dù là hòa giải thành hay hòa giải không thành, biên bản đều có ý nghĩa riêng và mở ra những hướng giải quyết khác nhau cho các bên tranh chấp. Hiểu rõ giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành sẽ giúp người dân tận dụng kết quả này để hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Ngược lại, việc nắm được quy trình sau khi có biên bản hòa giải không thành là điều kiện cần thiết để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình tại Tòa án hoặc cơ quan hành chính cấp cao hơn. Pháp luật đất đai, đặc biệt là Luật Đất đai 2024, ngày càng hoàn thiện các quy định liên quan để đảm bảo kết quả hòa giải được thực thi hiệu quả, góp phần giải quyết dứt điểm các tranh chấp từ cơ sở.

4.1. Xử lý trường hợp hòa giải thành công tại UBND xã

Khi các bên đạt được thỏa thuận, một biên bản hòa giải thành sẽ được lập. Theo Khoản 5 Điều 202 Luật Đất đai 2013, nếu kết quả hòa giải làm thay đổi hiện trạng ranh giới đất hoặc người sử dụng đất, UBND cấp xã sẽ gửi biên bản này đến Phòng Tài nguyên và Môi trường. Cơ quan này sẽ trình UBND cấp huyện quyết định công nhận sự thay đổi và cấp mới hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, biên bản hòa giải thành có giá trị như một căn cứ pháp lý quan trọng để Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho các bên.

4.2. Hướng giải quyết khi hòa giải không thành tại cấp xã

Trong trường hợp hòa giải không thành, UBND cấp xã sẽ lập biên bản ghi rõ nội dung này và hướng dẫn các bên thực hiện các bước tiếp theo. Lúc này, các bên có quyền lựa chọn một trong hai con đường: (1) Gửi đơn đến cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết (UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh tùy đối tượng tranh chấp); hoặc (2) Khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Biên bản hòa giải không thành là một tài liệu bắt buộc, được xem là “điều kiện khởi kiện” đối với tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất, theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

04/10/2025
Pháp luật về hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất tại ubnd cấp xã qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh bình định luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI UBND CẤP XÃ 1. Khái quát về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã. Khái niệm về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã: - Khái niệm hòa giải. Để nắm được bản chất cơ bản của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, trước hết ta tìm hiểu khái niệm về hòa giải: “Hòa giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác.

Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự”4. Hoặc “Hòa giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên đã không đạt được kết quả”5. Theo cuốn sách 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông của tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, hòa giải được hiểu là việc các bên thương lượng, thỏa thuận với nhau trên cơ sở có sự cảm thông với nhau, tôn trọng pháp luật để giải quyết tranh chấp hay mâu thuẫn nào đó thông qua một trung gian hòa giải có thể là cá nhân, tổ chức xã hội hay cơ quan có thẩm quyền6.

Khác với thương lượng và tự hòa giải, hòa giải là biện pháp mà các bên lựa chọn một bên thứ ba độc lập, không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp, được các bên tin tưởng để giúp các bên đạt được thỏa thuận. Trong hòa giải, bên thứ ba không được áp đặt, quyết định việc thỏa thuận của các bên. Việc hòa giải cần đảm bảo tôn 4 Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội - 1999, tr. 5 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học Pháp lý: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp, 6Hà Nội - 2006, tr.

3 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nhà xuất bản giao thông vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 237. 7 trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, nội dung thỏa thuận chính là ý chí của các bên tranh chấp, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các bên phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của họ. Bên cạnh đó, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bên thứ ba chỉ có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục nhằm giúp các bên tranh chấp đạt được sự thỏa thuận một cách tự nguyện vì lợi ích hài hòa của các bên4.

Như vậy, hòa giải là sự thương lượng giữa các bên tranh chấp do một bên thứ ba làm trung gian. Với các khái niệm hòa giải như trên, thì hòa giải có các đặc trưng cơ bản đó là: Thứ nhất, hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn các bên tranh chấp dựa trên việc tự thương lượng, thỏa thuận mang tính chất tự nguyện, tự giác thực hiện. Thứ hai, chủ thể làm trung gian (trọng tài) giúp các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng.

Thứ ba, các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. Hòa giải thường được áp dụng những quan hệ dân sự, lối sống, phong tục, tập quán. 4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, Nhà Xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 285. 8 - Khái niệm tranh chấp đất đai Luật Đất đai năm 2013 có quy định khái niệm về tranh chấp đất đai “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”7.

Từ khái niệm tranh chấp đất đai, có thể hiểu chủ thể tranh chấp, đối tượng tranh chấp đó là: Về chủ thể tranh chấp đất đai là người sử dụng đất. Người sử dụng đất được Luật đất đai quy định đó là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất bao gồm bảy nhóm người sử dụng đất quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013. Về đối tượng tranh chấp, là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, Luật quy định chưa rõ tranh chấp quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là quyền và nghĩa vụ gì, bởi thông thường người sử dụng đất chỉ tranh chấp quyền, lợi ích hợp pháp chứ không ai tranh chấp việc thực hiện nghĩa vụ, trừ khi nghĩa vụ đó gắn liền với quyền lợi8. Phạm vi tranh chấp, Luật quy định “trong quan hệ đất đai”.

Quan hệ đất đai bao hàm cả quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, các giao dịch về đất đai như chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. Về khái niệm tranh chấp đất đai, có tác giả cho rằng “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”9. Hay có quan điểm cho rằng nên định nghĩa “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”10 hay “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”11. Các khái niệm 7 khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 8 Lưu Quốc Thái (2015), ‘Bàn về thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành 9chính', Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 05 (90), trang 31.

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nhà xuất bản Công an 11nhân dân, trang 74. 7 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, trang 289. 9 trên mang ý nghĩa về nghiên cứu khoa học, chưa thể hiện rõ, rạch ròi tranh chấp đất đai với tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai. Theo tác giải tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh xác định về quyền sử dụng đất của các chủ thể sử dụng đất.

Còn các tranh chấp liên quan đất đai khác nó mang một quan hệ dân sự khác như tranh chấp thừa kế về đất đai, tranh chấp giao dịch dân sự về đất đai. thì không xem là tranh chấp đất đai. - Khái niệm hòa giải tranh chấp tại UBND cấp xã Hòa giải tranh chấp đất đai không chỉ là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội và của mỗi người sử dụng đất. Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định phạm vi tranh chấp, cũng như chủ thể tranh chấp đất đai nào được UBND cấp xã hòa giải.

Căn cứ vào đặc điểm chung về hòa giải, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hòa giải tranh chấp đất đai như sau: Hòa giải tranh chấp đất đai là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp trong sử dụng đất giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Bên cạnh các đặc điểm chung của hòa giải tranh chấp, hòa giải tranh chấp đất đai còn có một số đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất: Việc hòa giải tranh chấp đất đai không chỉ dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn áp dụng phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, quy ước. để vận động, thuyết phục các bên tranh chấp hoá giải bất đồng, mâu thuẫn về đất đai; Thứ hai: Việc hòa giải tranh chấp đất đai phải tiến hành vận động, tuyên truyền, thuyết phục các bên một cách kiên trì, bền bỉ, liên tục và tốn nhiều thời gian, công sức của người hòa giải mới mong đạt được sự thành công. Hơn nữa, việc hòa giải tranh chấp đất đai muốn đạt hiệu quả thì không dùng quyền lực Nhà nước, mệnh lệnh hành chính.

Cơ quan tiến hành hòa giải phải khách quan, công minh, đảm bảo hòa giải tranh 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Tư pháp, trang 455. 10 chấp một cách công bằng, không thiên vị, không áp đặt. Các bên đưa ra các cơ sở, dẫn chứng thực tiễn để chứng minh cho quyền và nghĩa vụ của mình, tự do thảo luận, đề xuất giải pháp, thỏa thuận. UBND cấp xã hòa giải đóng vai trò “trọng tài” để giải thích, phân tích các ý kiến, cơ sở các bên cung cấp cũng như tính pháp lý đối với các chứng cứ các bên đưa ra cùng với kết quả kiểm tra, xác minh, hồ sơ địa chính về đất đang tranh chấp để các bên đương sự suy nghĩ tự nhìn nhận lại với hai góc độ là cơ sở pháp lý và quá trình sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai hiện hành mà tìm ra giải pháp thỏa thuận với nhau Thứ ba: Việc hòa giải tranh chấp đất đai cần được thực hiện kịp thời và nhanh chóng.

UBND cấp xã hòa giải tranh chấp đất đai phải luôn luôn chủ động, sẵn sàng, chuẩn bị cơ sở pháp lý để trả lời khi các bên tranh chấp yêu cầu. Thứ tư: UBND cấp xã là cấp quản lý đất đai trực tiếp và gần gũi với nhân dân nhất trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, nên UBND cấp xã nắm rõ và hiểu biết tường tận về lịch sử nguồn gốc cũng như những biến động trong quá trình sử dụng đất đang tranh chấp. Hơn nữa, là người quản lý đất đai trực tiếp, nên UBND cấp xã có hồ sơ địa chính như: Sổ mục kê, bản đồ địa chính, sổ địa chính. Vì vậy, việc hòa giải tranh chấp đất đai do UBND cấp xã thực hiện sẽ thuận lợi hơn.

Mặc dù, hiện nay chưa có khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, nhưng được hiểu tranh chấp về quyền sử dụng đất là tranh chấp bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ