Luận văn: Thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở tại huyện Quế Sơn, Quảng Nam

Luận văn thạc sỹ về thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu chuyên sâu về giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2020

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một số công trình nghiên cứu

Một số bài viết tiêu biểu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Phương pháp nghiên cứu:

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận:

Ý nghĩa thực tiễn:

Kết cấu của Luận văn

1. CHƯƠNG 1: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.1.1. Khái niệm chính sách công

Tóm tắt

I. Khám phá Hòa Giải Cơ Sở ở Quế Sơn Ý nghĩa Khung pháp lý vững chắc

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định vai trò to lớn và ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở đối với đời sống xã hội. Hoạt động này góp phần hạn chế đáng kể những mâu thuẫn, khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế, an sinh xã hội, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, hòa giải cơ sở giúp giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật, ổn định trật tự, an toàn xã hội, giảm gánh nặng hồ sơ cho Tòa án và các cơ quan nhà nước, tiết kiệm thời gian và kinh phí cho cả Nhà nước và nhân dân [81].

Nền tảng pháp lý cho hòa giải cơ sở được xây dựng vững chắc qua nhiều văn bản quan trọng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Quy định này được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 1992 và sau này là Hiến pháp năm 2013, cùng với Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Đặc biệt, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Luật này bổ sung quy định về chính sách của Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở, khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn bằng hòa giải ở cơ sở và các hình thức phù hợp khác. Nhà nước cũng khuyến khích những người có uy tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư tham gia hòa giải viên và có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động này, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp. Qua đó, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác hòa giải ở cơ sở được phát huy, thể hiện đúng bản chất tự nguyện, tự quản của hoạt động này [8].

Trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, công tác quản lý nhà nướcthực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở đã đạt được những kết quả nhất định. Các cấp chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho các Tổ hòa giải, Hòa giải viên, cộng đồng xã hội, các hội đoàn thể, khu dân cư thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, đảm bảo nguồn ngân sách trong hoạt động, góp phần xây dựng làng xã văn hóa, gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, chính sách hòa giải ở cơ sở vẫn gặp nhiều khó khăn, việc quản lý, theo dõi và kinh phí phân bổ còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở tại Quế Sơn là vô cùng cần thiết.

1.1. Khái niệm Hòa giải Cơ sở Bản chất và vai trò không thể thiếu

Hòa giải cơ sở là một khái niệm trung tâm trong việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng. Theo Khoản 1, Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hòa giải cơ sở được định nghĩa là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định. Phạm vi hòa giải cơ sở bao gồm các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải, trừ các trường hợp không hòa giải theo Điều 3 Luật HGCS và Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP [16, tr.1].

Bản chất của hòa giải cơ sở là hoạt động tự nguyện, mang tính xã hội và cộng đồng, không quy định thủ tục bắt buộc khi tiến hành. Hòa giải viên cần tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến vụ việc, mong muốn của các bên để đưa ra lời khuyên dựa trên pháp luật và đạo đức xã hội. Vai trò của hòa giải cơ sở rất quan trọng, được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Trước hết, đây là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, giúp giữ gìn đoàn kết nội bộ, củng cố tình cảm và đạo lý truyền thống, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Thứ hai, hoạt động này giúp các bên tự mình giải quyết tranh chấp trên cơ sở mong muốn, hài hòa lợi ích, giảm áp lực cho các cơ quan nhà nước và tư pháp. Cuối cùng, hòa giải viên vận dụng pháp luật để giải thích, phân tích, hướng dẫn các bên xử sự phù hợp, nhanh chóng và ít tốn kém, giảm thiểu chi phí ngân sách nhà nước cho công tác tư pháp [13, tr.12]. Hòa giải cơ sở thực sự là một hoạt động nhân văn, vì con người và dựa trên tình người, góp phần hàn gắn, vun đắp hạnh phúc gia đình và cộng đồng.

1.2. Các văn bản pháp luật chủ chốt định hình hoạt động hòa giải

Sự phát triển của công tác hòa giải ở cơ sở luôn gắn liền với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật. Nền tảng đầu tiên là Hiến pháp năm 1992, sau đó là Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Kế tiếp, Quyết định số 1067/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 01/1999/CT-BTP của Bộ Tư pháp đã góp phần cụ thể hóa việc triển khai. Đến năm 2013, Hiến pháp mới được ban hành, cùng với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đã tạo ra một khung pháp lý toàn diện và hiện đại hơn cho hoạt động này.

Để đảm bảo việc thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở được đồng bộ và hiệu quả, nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành. Các văn bản nổi bật bao gồm Nghị định số 15/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều, Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN hướng dẫn phối hợp thực hiện, và Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cho công tác hòa giải ở cơ sở. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng ban hành nhiều quyết định và kế hoạch như Quyết định số 2611/QĐ-BTP, Quyết định số 4077/QĐ-BTP, và Kế hoạch số 1543/KH-BTP để hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm tra thi hành Luật. Những văn bản này không chỉ cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc mà còn liên tục được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo chính sách hòa giải luôn đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và duy trì an ninh chính trị [71].

II. Thực trạng triển khai Chính sách Hòa giải Cơ sở tại Quế Sơn Thách thức Thành tựu

Chương 2 của luận văn tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020. Quế Sơn là một huyện trung du với địa hình đa dạng, phần lớn là đồi núi, xen kẽ đồng bằng nhỏ hẹp. Những điều kiện tự nhiên này tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra những đặc thù riêng trong quản lý xã hội và giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp [84, tr.31-32]. Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn do xuất phát điểm thấp và hậu quả chiến tranh, huyện đã nỗ lực xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Công tác triển khai chính sách hòa giải ở cơ sở đã có những nét nổi bật, góp phần xây dựng làng xã văn hóa, gia đình ấm no, hạnh phúc, và duy trì an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội [84, tr.35].

Tuy nhiên, quá trình này không phải không có thách thức. Việc quản lý, theo dõi hoạt động và phân bổ kinh phí hòa giải đôi khi còn chưa chặt chẽ và hạn chế. Phong tục tập quán địa phương, mặc dù là nền tảng của tình làng nghĩa xóm, nhưng đôi khi cũng tạo ra những khó khăn nhất định khi áp dụng các quy định pháp luật. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở về vai trò của công tác hòa giải chưa đầy đủ, dẫn đến hoạt động của một số Tổ hòa giải còn mang tính hình thức. Trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật và kỹ năng, kinh nghiệm hòa giải của đội ngũ hòa giải viên cũng còn hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động hòa giải cơ sở chưa thực sự được chú trọng đúng mức [85, tr.48].

Nhìn chung, thực trạng hòa giải cơ sở ở Quế Sơn cho thấy sự nỗ lực lớn của các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư trong việc triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở 2013 và các văn bản liên quan. Những kết quả đạt được là đáng ghi nhận, song những hạn chế và thách thức hiện hữu đòi hỏi các giải pháp toàn diện và đồng bộ để nâng cao hiệu quả hòa giải trong thời gian tới. Việc phân tích sâu sắc các yếu tố tác động và kết quả hòa giải sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất các định hướng phù hợp, đảm bảo hòa giải cơ sở thực sự là công cụ hữu hiệu trong việc xây dựng một xã hội công bằng, đoàn kết và phát triển bền vững tại Quế Sơn.

2.1. Điều kiện kinh tế xã hội và phong tục tập quán tác động đến hòa giải

Quế Sơn là một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, với địa hình đồi núi chiếm hơn 60% diện tích, tạo ra những đặc thù riêng về kinh tế - xã hội và sinh hoạt cộng đồng dân cư [84, tr.31]. Tình hình kinh tế huyện có những bước tăng trưởng ổn định, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển này, cùng với các dự án đầu tư du lịch và cơ sở hạ tầng, đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân [84, tr.33]. Khi đời sống được nâng lên, nhận thức pháp luật và quan niệm sống cũng hiện đại hơn, thường làm giảm các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ những vấn đề nhỏ.

Tuy nhiên, Quế Sơn vẫn là một huyện còn nhiều khó khăn, chịu ảnh hưởng từ lịch sử chiến tranh. Phong tục tập quán và truyền thống văn hóa làng xã vẫn có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân. Những yếu tố này vừa là nền tảng để xây dựng tình đoàn kết nhưng cũng có thể là rào cản hoặc tạo ra những dạng tranh chấp đặc thù. Công tác thông tin tuyên truyền, các công trình văn hóa, sinh hoạt cộng đồng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, khiến đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân còn nghèo [84, tr.35]. Khi triển khai chính sách hòa giải ở cơ sở, các cấp chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, cộng đồng xã hội, và Tổ hòa giải để đưa ra các giải pháp phù hợp, vừa bảo đảm phát triển kinh tế, an ninh chính trị, an toàn xã hội, vừa gìn giữ văn hóa truyền thống, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

2.2. Phân tích kết quả hòa giải giai đoạn 2016 2020 Ưu điểm nổi bật

Thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Quế Sơn trong giai đoạn 2016 – 2020 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu từ UBND huyện Quế Sơn, tổng số vụ việc tiếp nhận là 530, trong đó 487 vụ được hòa giải thành, 35 vụ không thành và 8 vụ đang tiếp tục hòa giải. Tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 90% là một minh chứng rõ ràng cho hiệu quả hòa giải của hệ thống cơ sở tại huyện [85, tr.47].

Những ưu điểm nổi bật bao gồm việc củng cố, kiện toàn mạng lưới tổ hòa giải ở tất cả các khu dân cư. Các Tổ hòa giải thường có sự tham gia của bí thư chi bộ, trưởng khu dân cư, trưởng ban công tác Mặt trận, và các thành viên hội đoàn thể, là những người am hiểu pháp luật, phong tục tập quán địa phương, có uy tín và tinh thần trách nhiệm cao [85, tr.48]. Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về hòa giải được triển khai đa dạng thông qua hội nghị, tờ rơi, pano, và hệ thống truyền thanh cơ sở, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư. Thông qua hòa giải cơ sở, nhiều mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư đã được giải quyết kịp thời, giảm bớt khiếu nại, tố cáo lên cấp trên, góp phần giữ gìn tình đoàn kết nội bộ và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp. Hoạt động này cũng đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, vẫn còn những khó khăn về nhận thức, năng lực hòa giải viênquản lý nhà nước, đòi hỏi các giải pháp tiếp theo.

III. Nâng cao hiệu quả Hòa giải Cơ sở tại Quế Sơn Phương pháp toàn diện đột phá

Để thực sự nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở tại Quế Sơn, cần triển khai một phương pháp toàn diện và có tính đột phá, khắc phục những hạn chế đã được nhận diện. Mục tiêu là biến hòa giải cơ sở thành một công cụ giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp thực sự mạnh mẽ, góp phần xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, văn minh và tuân thủ pháp luật. Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa việc hoàn thiện chính sách hòa giải, nâng cao năng lực cho đội ngũ hòa giải viên, và tối ưu hóa công tác quản lý nhà nước.

Một trong những khía cạnh quan trọng là việc đảm bảo hòa giải cơ sở được thực hiện một cách chủ động, khéo léo và thấu tình đạt lý, thay vì chỉ tuân thủ quy trình cứng nhắc. Hòa giải viên cần được trang bị đầy đủ kỹ năng nghiệp vụ để tìm hiểu nguyên nhân, tư vấn pháp luật và đưa ra giải pháp tối ưu cho các bên. Sự chủ động này giúp các vụ việc được giải quyết kịp thời, tạo sự hài hòa giữa các bên và đáp ứng nguyện vọng của người dân [16, tr.14]. Huyện ủy, UBND huyện Quế Sơn, UBMTTQVN huyện, và Ban Dân vận Huyện ủy đã quán triệt, hướng dẫn các cơ quan chuyên môn và UBND các xã về công tác hòa giải cơ sở hàng năm, nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán tốt đẹp, đẩy lùi tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan [38, tr.36].

Việc thực hiện các chính sách hòa giải phải đặt lợi ích của người dân lên hàng đầu, tạo sự bình đẳng, công bằng và tôn trọng ý kiến các bên. Các hoạt động hòa giải cơ sở cần gắn liền với phát triển kinh tế - xã hộian sinh xã hội, củng cố đoàn kết dân tộc. Chủ thể thực hiện chính sách, bao gồm các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, Tổ hòa giảiHòa giải viên, đóng vai trò quyết định sự thành công trong việc hoạch định và triển khai chính sách hòa giải ở cơ sở [84, tr.37]. Các giải pháp cần tập trung vào việc tạo sự đồng thuận từ cán bộ, công chức đến cộng đồng dân cư, đảm bảo rằng mọi chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách hòa giải cơ sở được thực hiện trong khuôn khổ quy định pháp luật và hương ước, quy ước làng xã.

3.1. Tối ưu hóa công tác xây dựng kế hoạch và phổ biến chính sách

Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở là bước nền tảng để đảm bảo sự đồng bộ và định hướng rõ ràng. UBND huyện Quế Sơn đã ban hành nhiều kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, và tiếp cận pháp luật hàng năm, như Kế hoạch số 11/KH-UBND (2019) và Kế hoạch số 12/KH-UBND (2020). Đặc biệt, huyện đã triển khai Quyết định số 428/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2019-2022” [85, tr.39-40].

Cùng với việc xây dựng kế hoạch, phổ biến, tuyên truyền chính sách hòa giải ở cơ sở là nhiệm vụ trọng tâm. Phòng Tư pháp huyện Quế Sơn đã chủ trì, tham mưu UBND huyện tổ chức các hội nghị tuyên truyền, hội thi tìm hiểu pháp luật (như “Rung chuông vàng”), và phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Các hoạt động này nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức và hòa giải viên. Việc cung cấp tài liệu pháp luật, sách về Luật Đất đai, Luật Trợ giúp pháp lý cho các thôn, tổ dân phố cũng được chú trọng để hỗ trợ xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong phổ biến giáo dục pháp luật, duy trì các trang thông tin về PBGDPL, và tổ chức các hội thi trực tuyến là các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả tuyên truyền pháp luật và nhận thức về tầm quan trọng của hòa giải cơ sở [85, tr.42-44].

3.2. Tăng cường phối hợp và giám sát hoạt động hòa giải viên

Phân công, phối hợp thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở đóng vai trò then chốt để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. UBND huyện thường xuyên quán triệt, phổ biến, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định 619/QĐ-TTg. Các cơ quan chuyên môn như Tòa án nhân dân huyện, Phòng Tư pháp huyện, và Trung tâm VHTT&TT-TH huyện được giao nhiệm vụ cụ thể trong việc hỗ trợ và triển khai Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Luật HGOCS năm 2013, và các văn bản liên quan [85, tr.45-46]. Phòng Tư pháp có trách nhiệm tham mưu UBND huyện, HĐND huyện phê duyệt ngân sách, phân bổ kinh phí đảm bảo hoạt động hòa giải cơ sở hàng năm.

Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở là hoạt động không thể thiếu để duy trì chất lượng. UBND huyện đã thành lập Ban tiếp công dân và các xã cũng có bộ phận một cửa để xử lý kịp thời các khiếu nại, tố cáo và các vấn đề hòa giải. Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng ở cấp xã cũng tham gia giám sát hoạt động của các Tổ hòa giảiHòa giải viên, đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định địa phương [85, tr.46-47]. Việc kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện khó khăn, vướng mắc, kịp thời động viên, khuyến khích các sáng kiến hiệu quả, và chấn chỉnh sai sót. Cả cơ quan trung ương (Bộ Tư pháp) và địa phương (Sở Tư pháp) đều tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất để đánh giá kết quả hòa giải, tìm ra điển hình tiên tiến và các khu vực cần cải thiện, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội [34, tr.28].

IV. Đề xuất Kiến nghị đột phá nhằm hoàn thiện Hòa giải Cơ sở tại Quế Sơn hiệu quả

Để Hòa Giải Cơ Sở ở Quế Sơn phát huy tối đa tiềm năng, trở thành trụ cột vững chắc trong việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp tại địa phương, các đề xuất và kiến nghị đột phá là cần thiết. Dựa trên những thực trạngkết quả hòa giải đã phân tích, việc hoàn thiện chính sách hòa giải không chỉ dừng lại ở việc duy trì các hoạt động hiện có mà còn cần một tầm nhìn chiến lược, toàn diện hơn. Mặc dù hòa giải cơ sở đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng những hạn chế về nhận thức, năng lực hòa giải viên, và công tác quản lý nhà nước vẫn đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ và đồng bộ.

Một hệ thống hòa giải cơ sở mạnh mẽ sẽ đóng góp trực tiếp vào an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tại huyện Quế Sơn. Điều này đòi hỏi các cấp chính quyền, đặc biệt là UBND huyện Quế SơnPhòng Tư pháp, cùng với sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Namcộng đồng dân cư, phải liên tục đổi mới, sáng tạo trong cách tiếp cận. Các giải pháp phải linh hoạt, phù hợp với đặc thù phong tục tập quán và điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương trong huyện.

Kết quả hòa giải thành ở cơ sở phần lớn được các bên tự nguyện thi hành, chứng tỏ hiệu quả của việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp từ gốc rễ, giảm gánh nặng cho hệ thống tư pháp và tiết kiệm chi phí cho người dân. Tuy nhiên, để đạt được sự bền vững, cần có sự đầu tư nghiêm túc vào cả con người và cơ chế. Các đề xuất dưới đây tập trung vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên, tối ưu hóa kinh phí hòa giải, và kiện toàn công tác quản lý nhà nước về hòa giải, hướng tới một tương lai nơi hòa giải cơ sở thực sự là giải pháp ưu việt cho cộng đồng dân cưQuế Sơn.

4.1. Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên và Tổ hòa giải

Để nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viênTổ hòa giải tại Quế Sơn, cần tập trung vào các giải pháp thiết thực. Thứ nhất, tăng cường tổ chức các khóa tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, và kỹ năng, kinh nghiệm hòa giải cho hòa giải viên. Nội dung bồi dưỡng cần bao gồm kiến thức chuyên sâu về Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, Bộ luật Dân sự, các chính sách liên quan, cùng với kỹ năng giao tiếp, đàm phán, thuyết phục và xử lý tình huống thực tế. Các hình thức bồi dưỡng nên đa dạng, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tổ chức các hội thi “Hòa giải viên giỏi” để khuyến khích học hỏi và trao đổi kinh nghiệm hòa giải [85, tr.48].

Thứ hai, kiện toàn công tác tuyển chọn và công nhận hòa giải viên. Ưu tiên những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, am hiểu phong tục tập quán địa phương, có phẩm chất đạo đức tốt và khả năng kết nối, chia sẻ. Phòng Tư pháp cần phối hợp chặt chẽ với UBMTTQVN huyện, xã để rà soát, đánh giá định kỳ về tổ chức và hoạt động của các Tổ hòa giải, đảm bảo số lượng và chất lượng đội ngũ hòa giải viên. Cần có chính sách hỗ trợ kịp thời cho hòa giải viên, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, để động viên họ tham gia tích cực vào công tác hòa giải [34, tr.29-30].

4.2. Cơ chế tài chính và quản lý nhà nước Hướng tới sự bền vững

Để đảm bảo hòa giải cơ sở hoạt động bền vững tại Quế Sơn, việc hoàn thiện cơ chế tài chính và quản lý nhà nước là không thể thiếu. Một trong những kiến nghị đột phá là rà soát và đảm bảo phân bổ đầy đủ, kịp thời kinh phí ngân sách nhà nước cho công tác hòa giải, theo đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP. Cần có cơ chế chi trả thù lao cho hòa giải viên một cách minh bạch và phù hợp với công sức, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động của Tổ hòa giải như mua văn phòng phẩm, tài liệu, và tổ chức họp [85, tr.23]. Việc này sẽ khuyến khích hòa giải viên chuyên tâm hơn vào công việc và nâng cao chất lượng hoạt động.

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động hòa giải cơ sở theo hướng chặt chẽ, hiệu quả và tránh hình thức. Bộ Tư pháp, UBND các cấp, và Phòng Tư pháp huyện cần phối hợp để xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá hiệu quả hòa giải dựa trên tính hiệu lực, hiệu quả, công bằng và mức độ giải quyết vấn đề của chính sách [51]. Đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát, và sơ kết, tổng kết định kỳ để rút kinh nghiệm, phát hiện những mô hình hay để nhân rộng và khắc phục kịp thời các hạn chế. Cuối cùng, tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc giám sát, phản biện xã hội đối với chính sách hòa giải, đảm bảo chính sách thực sự đi vào cuộc sống và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân [71].

29/09/2025
Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm chính sách công Từ điển Bách khoa Việt Nam khái niệm: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, định hướng mục tiêu những vấn đề công trong xã hội” [28].

Một tập thể các tác giả khác lại cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [35]. Theo quan điểm của Viện chính trị học khái niệm: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” Theo quan niệm của Đặng Ngọc Lợi khái niệm: chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ. Theo quan niệm của Lê Chi Mai khái niệm: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định thể hiện trên văn bản và những hành động, hành vi thực tiễn ở các địa phương. Từ những phân tích trên, Hồ Việt Hạnh có một số quan niệm chính sách công như sau: Thứ nhất, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước.

Thứ hai, các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. 10 Thứ ba, một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công. Tiêu chí đó có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng. Thứ tư, chính sách công phải được xem như một quá trình xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá [30] Chính sách công được thể chế hóa bằng các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, cuộc sống thực tiễn.

Đòi hỏi sự phù hợp của chính sách được thực hiện khả thi, bền vững trên thực tế. Như vậy có thể hiểu, chính sách công bao gồm các thuộc tính nhà nước, công cộng, hành động thực tiễn được hệ thống và kế thừa lịch sử, gắn liền với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của một quốc gia. Khái niệm thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách là một quá trình trong việc chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thực hiện quản lý các đối tượng trong các quan hệ xã hội, quản lý hành chính nhà nước. Tổ chức thực thi chính sách bao gồm các bước theo quy trình chính sách thực hiện trong một hệ thống.

Hoạch định chính sách và thực hiện đúng chính sách luôn gắn kết với nhau trong quá trình thực hiện. Khái niệm thực hiện chính sách hay “thực thi chính sách” hoặc “tiến hành thực hiện chính sách”, thực chất cùng nội hàm; thông thường, là giai đoạn sau quá trình hoạch định và trước quá trình đánh giá chính sách công. Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất các hoạt động được thiết kế để các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp”. Tác giả William Dunn cho rằng: “Các hành động chính sách công có hai mục đích chính: điều chỉnh và phân bổ”.

[19] Về cơ bản, coi thực hiện chính sách (công) – một khâu trong chu trình chính sách để đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội. Đây là quá trình xây dựng và ban hành các văn bản, chương trình, dự án,. nhằm hiện thực hóa, cụ thể hóa các nội dung chính sách để đạt được mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch đặc ra. Có thể thấy, thành công của chính sách chủ yếu phụ thuộc vào việc tổ chức thực thi chính sách đó trên thực tế.

Đó là từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách, khẳng định tính phù hợp, đúng đắng của chính sách công và giúp cho chính sách công ngày một hoàn thiện hơn. 11 Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. * Các bước thực hiện chính sách, gồm 5 bước: - Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách. - Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách.

- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách. - Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách. - Đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách [29] 1. Khái niệm hòa giải Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: Hòa giải là giải quyết các tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba.

Sổ tay đào tạo hòa giải của Hội đồng hòa giải và thương lượng Tòa án tối cao Ấn Độ đưa ra khái niệm: “Hòa giải là quy trình đàm phán tự nguyện, có cấu trúc và lấy các bên làm trọng tâm, tại đó một bên thứ ba trung gian giúp các bên giải quyết ôn hòa tranh chấp của họ bằng cách sử dụng các kỹ thuật đàm phán và trao đổi thông tin chuyên biệt” và “Bản chất của hòa giải là quy trình đàm phán có trợ giúp. Hòa giải giải quyết cả các vấn đề về tình tiết và pháp lý, nguyên nhân nền tảng của tranh chấp…”. Theo quan điểm của tác giả Văn Tân thì hòa giải “là dàn xếp nhằm chấm dứt một xung đột” [87]. Theo Từ điển tiếng Việt, hòa giải là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [67] Hoạt động hoà giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có lý, có tình, nghĩa là hoà giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội.

Trước hết cần đề cao yếu tố tình cảm, phân tích, khuyên nhủ các bên ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: Như con cái phải có hiếu với cha mẹ; anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “như thể tay chân”, “chị ngã, em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”; vợ chồng sống với nhau phải có tình, có nghĩa, “đạo vợ, nghĩa chồng”; xóm giềng thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”… Đồng thời, hoà giải viên phải dựa vào pháp luật để phân tích, đưa ra những 12 lời khuyên và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.13] Trong quá trình hoà giải, hoà giải viên phải tìm hiểu ngọn ngành của vụ việc như: Nguyên nhân phát sinh, diễn biến của vụ việc, thái độ mong muốn của các bên… Từ những phân tích trên, có thể hiểu, hòa giải là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân với tư cách là người thứ ba (người hòa giải) hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên có tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp dân sự một cách ổn thỏa… 1. Khái niệm hòa giải cơ sở 1. Khái niệm Khoản 1, Điều 2 Luật Hòa giải năm 2013 quy định: HGOCS là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định. Theo Điều 3 Luật HGOCS, Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HGOCS, phạm vi HGOCS được quy định bao gồm các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải; Các trường hợp không hòa giải.

Như vậy, Hòa giải cấp cơ sở là việc thực hiện nhiệm vụ hòa giải ở cơ sở về các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. theo luật định và theo thẩm quyền, phạm vi hòa giải các ở các địa phương [16, tr. HGCS là hoạt động của ngành tư pháp, là phương thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư ở cơ sở, qua đó tạo được sự đoàn kết, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, phát huy vai trò của các Tổ hòa giải, HGV trong công tác hòa giải trên cơ sở đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó. Luật HGCS quy định hoạt động hòa giải của UBND cấp xã, hòa giải tại Tòa án, hòa giải thương mại, trọng tài, hòa giải lao động 13 theo quy định của các luật khác có liên quan không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật HGCS.

Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của việc thực hiện chính sách hòa giải cơ sở Thực tiễn trong đời sống kinh tế, xã hội có rất nhiều lĩnh vực được xây dựng tiêu chí đánh giá như tiêu chí đánh giá xây dựng pháp luật; tiêu chí đánh giá năng lực công chức; tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong kiểm toán… riêng công tác HGCS và thực hiện chính sách HGCS chưa được xây dựng tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong công tác này. Tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu đánh giá chính sách công, dựa trên khung lý thuyết trong các giải pháp tăng cường đánh giá chính sách công, có thể xây dựng tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của việc thực hiện chính sách HGCS với những phương diện cụ thể sau đây: Một là, tính hiệu lực của chính sách Phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của Nhà nước. Tính hiệu lực của chính sách thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu đề ra. Mục tiêu của chính sách HGOCS nhằm hạn chế những mâu thuẫn, tranh chấp ở cộng động dân cư, nâng cao đời sống nhân dân ở các địa phương.

Hai là, tính hiệu quả của chính sách Phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách đưa lại với chi phí đã bỏ ra. Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách. Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ