phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, luận văn gồm 03 chương sau: Chương 01 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT Chương 02 – Thực trạng nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT tại địa bàn nghiên cứu Chương 03 – Đề xuất một số hỗ trợ đối với NKT tại địa bàn nghiên cứu từ khía cạnh CTXH 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHU CẦU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA NKT 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về NKT, việc làm, độ tuổi lao động, nhu cầu việc làm, nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT, công tác xã hội, công tác xã hội với NKT 1. Người khuyết tật Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiế n cho lao đô ̣ng, sinh hoa ̣t, học tập gă ̣p khó khăn [4, điều 2] Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [19, điều 1] Người khuyết tật là một người do khiếm khuyết hoặc các điều kiện/tình trạng sức khoẻ mà bị GIẢM CHỨC NĂNG (hoạt động) và /hoặc HẠN CHẾ sự tham gia trong các mặt sinh hoạt, lao động, học tập, đời sống xã hội.10] Dạng tật và mức độ khuyế t tật 1.
Dạng tật bao gồm: a) Khuyết tật vận động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thầ n; đ) Khuyết tật trí tuệ; e) Khuyết tật khác. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây: a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này. [4, điều 3] Dạng tật bao gồm: Khuyết tật các giác quan: Khó khăn về nhìn, mù hoàn toàn, khó khăn khi nhìn vật quá gần, khó khăn khi nhìn vật quá xa, khó khăn khi phân biệt màu sắc, khó khăn khi nhìn vùng mờ hay tối, nhìn hình đôi, mất cảm giác (bệnh phong) Khó khăn về nói, giao tiếp: Không thể nghe, không thể nói nhưng có thể hiểu (điếc câm hoàn toàn), có thể nghe, có thể hiểu nhưng không nói được (câm), chỉ nghe được một phần (điếc không hoàn toàn), khó khăn về nghe ở các mức độ khác nhau (điếc, nghễnh ngãng.), các dạng mất cảm giác khác. Các dạng khuyết tật về nhận thức: Hội chứng Down, chậm phát triển trí tuệ Các dạng khuyết tật về tâm thần: Rối loạn hành vi, tự kỷ ở trẻ em, các bệnh tâm thần bao gồm cả tâm thần phân liệt.
Các dạng khuyết tật khác, không thuộc các nhóm trên như khuyết tật do tình trạng bệnh mãn tính ở các cơ quan nội tạng như suy tim, suy thận, suy hô hấp. Đa khuyết tật: một ngưòi có từ 2 dạng khuyết tật trở lên như bại não ở trẻ em,liệt nửa người do tai biến mạch máu não ở người lớn, nhiễm độc Dioxin. Việc làm và độ tuổi lao động Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Nguyên tắc về việc làm 1.
Bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc. Bình đẳng về cơ hội viê ̣c làm và thu nhập. Bảo đảm làm viê ̣c trong điề u kiê ̣n an toàn lao động, vệ sinh lao động. Độ tuổi lao động Độ tuổi lao động là 15 - 60 tuổi đối với nam và 15 - 55 tuổi đối với nữ 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nhu cầu việc làm và nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT Nội dung của nhu cầu việc làm bao gồm 5 thành tố: - Có nhu cầu làm việc hay không? - Làm công việc gì? - Làm việc ở khu vực nào ? + Hành chính, doanh nghiệp là khu vực có quan hệ lao động + Tự tạo việc làm là khu vực không có quan hệ lao động - Môi trường làm việc? - Thu nhập như thế nào? Nhu cầu hỗ trợ việc làm bao gồm: - Đối với khu vực có quan hệ lao động có nhu cầu hỗ trợ về: dạy nghề, giới thiệu việc làm, phương tiện đi lại… - Đối với khu vực không có quan hệ lao động, tự tạo việc làm có nhu cầu hỗ trợ về: vốn, kỹ năng, thị trường, đầu ra, quản lý sản xuất kinh doanh… 1. Công tác xã hội và Công tác xã hội với Người khuyết tật Công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên CTXH (NASW): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996). CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999). Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp.
Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. “CTXH chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Quyền con người và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề CTXH”.
Công tác xã hội với Người khuyết tật CTXH với NKT là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc và trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô ̣t số lý thuyế t ƣ́ng du ̣ng trong nghiên cƣ́u 1. Lý thuyết nhu cầu Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX.
Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình. Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang. Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu vật chất, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu về tôn trọng và tự trọng. Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân.
Trong hệ thống thứ bậc của A. Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước. Nếu như nhu cầu trước cá nhân không được đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong nhu cao hơn. Maslow là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hệ thống nhu cầu của con người.
Tuy nhiên lý thuyết Maslow đưa ra cũng có một số hạn chế do sự tuyệt đối hóa nhu cầu của con người qua mỗi bậc thang của sự phát triển. Không phải cứ phải thỏa mãn nhu cầu ở nấc thang trước thì con người mới thỏa mãn và nảy sinh nhu cầu ở nấc thang trên. Có những chuẩn mực xã hội hay khuôn mẫu xã hội dẫn dắt hành vi con người không bị điều khiển bởi các nhu cầu có tính tồn tại. Vào những năm 1970 nhu cầu của Maslow được điều chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng 8 bậc (năm 1990) Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu về xã hội; Nhu cầu được quý trọng; Nhu cầu nhận thức; Nhu cầu thẩm mỹ; Nhu cầu thể hiện mình; Sự siêu nghiệm [13, tr.
Tuy nhiên 5 bậc thang nhu cầu của Maslow vẫn được sử dụng phổ biến trong các hoạt động có liên quan đến nhu cầu của con người. Trong mỗi người cũng đều tồn tại và mong muốn đạt tới 5 bậc thang của Maslow. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhu cầu sinh lý Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người.
Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được. Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này.