CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ THANH NIÊN KHỞI NGHIỆP 1.1 Khái niệm có liên quan 1.1 Thanh niên Theo Luật Thanh niên số 53/2005/QH11, ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Vì vậy, xét từ góc độ nghề nghiệp, trong thanh niên có nhiều nhóm nhỏ khác nhau. Nhóm trẻ tuổi nhất đang chuẩn bị kết thúc những năm học phổ thông với mối quan tâm lớn nhất là lựa chọn nghề, chọn trường để tiếp tục học cao hơn, hoặc bước vào nghề; một bộ phận khác đang ngồi trên ghế các trường cao đẳng, đại học, tiếp thu kiến thức và kỹ năng chuyên môn ở trình độ cao để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, một bộ phận khác mới bước vào hoạt động nghề nghiệp, đang ứng phó với những khó khăn, thử thách ban đầu của hoạt động này; bên cạnh đó, một bộ phận thanh niên đã khẳng định được vị trí nghề nghiệp của mình, có những cống hiến nhất định cho xã hội. Ngày nay, nhờ sự phát triển nhanh của công nghệ - một lĩnh vực có rất nhiều đặc điểm phù hợp với tâm lý thanh niên, được thanh niên ưa thích và tích cực vận dụng vào chuyên môn, không ít thanh niên đã sớm đạt được thành tựu lớn, nhanh chóng khẳng định bản thân.
Với sự nhanh nhạy, nhiệt huyết của tuổi trẻ, dám nghĩ, dám làm và sức khỏe tốt, thanh niên được xem là lực lượng lao động chủ chốt của xã hội. Từ những cơ sở trên, thanh niên Việt Nam được định nghĩa như sau: Thanh niên Việt Nam là những người từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi; gồm những người có sức khỏe thể chất đạt đến đỉnh cao; năng động, nhiệt huyết, dám nghĩ, dám làm, thích giao lưu, học hỏi để nâng cao trình độ về mọi mặt, mong muốn được đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân. Họ là một lực lượng quan trọng của xã hội hiện tại cũng như trong tương lai. Trên thực tế, hoạt động của công tác Đoàn Thanh niên tại các cơ sở Đoàn Hội, tính đến tuổi 35, có thể cao hơn tùy thuộc vào từng tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên và nhu cầu thực tế của tổ chức.2 Khái niệm khởi nghiệp, người khởi nghiệp Khởi nghiệp, là một thuật ngữ chung bao hàm nhiều vấn đề và được định nghĩa bằng rất nhiều cách khác nhau.
Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển Tiếng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Việt được giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp. Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship (hay startup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa là sự đảm đương. Định nghĩa khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau. Theo Richard (1734), khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào.
Đến đầu thế kỷ XX, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện hơn và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp. Penrose (1959) hay Stevenson and Jarillo (1990) đều cho rằng, hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp là một quá trình mà cá nhân khởi nghiệp xác định rõ và biết theo đuổi, nắm lấy những cơ hội trong nền kinh tế. Trong khi đó Drucker (1985) khẳng định hoạt động này bao hàm ba yếu tố cơ bản như sự cải tiến, sự chấp nhận rủi ro và sự chủ động.
Theo Stevenson (1989), khởi nghiệp là "quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp". Rabboir (1995) trích trong Schnurr and Newing (1997) đã liệt kê ra 20 định nghĩa cho khởi nghiệp từ các nghiên cứu khác nhau về đề tài này. Khởi nghiệp trẻ, theo Schnurr and Newing (1997), được định nghĩa là "ứng dụng thực tế các phẩm chất của doanh nhân, ví dụ như sáng kiến, đổi mới, sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc (hoặc tự khởi nghiệp việc làm hoặc việc làm trong c ác công ty nhỏ mới thành lập), sử dụng các kỹ năng thích hợp để thành công trong môi trường làm việc. Đến đầu thế kỷ XXI, định nghĩa khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và/hoặc sự cải tiến trong một tổ chức mới đang tồn tại” - theo Ủy ban cộng đồng châu Âu (2003).
Oviatt and McDougall (2005) thì cho rằng khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm và dịch vụ trong tương lai. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 2002). Khởi nghiệp là một quá trình hoàn thiện và bền bỉ bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới. Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM) thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình. Vì vậy, khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình. Trong nghiên cứu này có thể định nghĩa: “Khởi nghiệp là việc một cá nhân/tổ chức tận dụng cơ hội thị trường và năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới”. Trong Từ điển, người khởi nghiệp là người đứng ra sáng lập một doanh nghiệp mới để cung ứng một sản phẩm hay dịch vụ cho một thị trường.
Knight (1921) cho rằng người khởi nghiệp là người nỗ lực dự đoán và hành động dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường. Đối với McClelland (1961), người khởi nghiệp là người có nhu cầu cao về sự thành công hay thành tựu, là người năng động và dám nghĩ dám làm. Họ cũng là người luôn tìm đến sự thay đổi, thích ứng với nó và khai thác những cơ hội. Người khởi nghiệp có hiệu quả là người biết cách chuyển đổi từ nguồn sẵn có thành một “tài nguyên” có thể khai thác - Drucker (1964).
Đối với Shapero (1981), một người khởi nghiệp có năng lực là người đón lấy cơ hội để thành lập doanh nghiệp, công ty riêng của mình ngay khi có cơ hội. Bird (1988) giải thích người khởi nghiệp là người tạo dựng một công việc kinh doanh mới. MacMillan and Katz (1992) lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro. Theo nghiên cứu gần đây của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp luôn cố gắng để phát hiện cơ hội đổi mới sản phẩm hoặc cải tiến các sản phẩm hiện có để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 kiếm được lợi nhuận.
Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình. Người khởi nghiệp được hiểu là người có can đảm chấp nhận thách thức, chấp nhận những rủi ro, bỏ vốn hay hùn vốn để khởi đầu một công việc kinh doanh trên cơ sở dám cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Người khởi nghiệp, khi bắt đầu khởi nghiệp thường chọn cho mình một ngành nghề mình cho là có hứng thú và có năng lực nhất, tuy nhiên cũng có rất nhiều những cách thức khởi nghiệp khác nhau trong cùng một ngành nghề. Qua nghiên cứu có thể phân những người khởi nghiệp thành các nhóm khác nhau, để đạt được thành công người khởi nghiệp phải kiểm tra, xác nhận và lựa chọn mình thuộc nhóm người khởi nghiệp nào.
Có thể phân thành các nhóm những người khởi nghiệp gồm: Nhóm 1. Nhà tư vấn: Bao gồm luật sư, nhân viên kiểm toán, người lập kế hoạch cho các công ty tài chính, ngân hàng… Ở nhóm này, họ là những người có kinh nghiệm và học vấn cao. Nhà quản lý: Là những người có khả năng tốt để thực hiện những nhóm công việc nhỏ, có độ tinh tế cao, có khả năng quản lý về những kế hoạch cá nhân, sự kiện, dữ liệu, tình hình đặt hàng… Nhóm 3. Nhà sáng tạo: Những người có thiên hướng tập trung suy nghĩ sản sinh những ý tưởng từ chỗ không có gì; ví dụ như các nhà sáng tác nghệ thuật (nhạc sỹ, nhà hội họa, điêu khắc.
Nhóm thiên hướng chăm sóc: Đây là những người có khả năng nhẫn nại cao, khả năng quan tâm đến những khó khăn của người khác; ví dụ như những người chăm sóc cây cỏ, động vật, phục vụ người bệnh. Nhà lãnh đạo, truyền đạt thông tin: Là những người có khả năng sử dụng ngôn ngữ, truyền đạt tình cảm trong công việc, có nhiều những mối giao lưu cá nhân, giáo dục, khả năng bán hàng. Giải trí: Là người có khả năng tiếp khách, đối nhân xử thế tốt trong các loại hình dịch vụ, trong các buổi giao lưu như người dẫn chương trình, ca sỹ, diễn viên… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhà đầu tư: Là những người bằng cách đầu tư để tăng tài sản mình sở hữu, tăng giá trị tư bản, người muốn mỗi ngày không làm việc vất vả mà vẫn làm tăng tài sản sở hữu.
Chuyên gia bán hàng (người bán hàng): Là người có khả năng thu hút khách hàng trong các nghiệp vụ tài chính, bằng cách cung cấp những dịch vụ (khuyến mãi) đặc biệt để tăng lượng khách hàng; đó là người làm trong những ngành như bất động sản, bảo hiểm… Nhóm 9. Nhà kỹ thuật: Những người thích máy móc, lập trình phần mềm, tư vấn kỹ thuật… Từ những định nghĩa trên, có thể thấy rõ phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng người khởi nghiệp bao hàm những đặc trưng sau đây: sáng tạo, có xu hướng tìm đến sự cải tiến, nhạy bén trong việc nắm bắt những cơ hội kinh doanh và biết chấp nhận rủi ro.