Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC SƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Hỗ trợ tâm lý học đường là một lĩnh vực nghiên cứu được bắt đầu chú trọng từ những năm 80 của thế kỷ XX khi vấn nạn rối nhiễu tâm lý trở nên nghiêm trọng trong xã hội công nghiệp hiện đại. Đặc biệt, nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường của học sinh, sinh viên được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu bởi đó là một trong những cơ sở quan trọng cho việc thành lập và nội dung hoạt động của các phòng tâm lý học đường trong trường học.
Từ đó cho đến nay, có khá nhiều cách tiếp cận về lĩnh vực này, tuy nhiên, có thể khái quát một số xu hướng nghiên cứu chính như sau: * Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá thực trạng nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường của học sinh, sinh viên ở các bậc học và trẻ khuyết tật. Đây là xu hướng nghiên cứu khá phổ biến trên thế giới. Các nội dung nghiên cứu thường tập trung làm rõ nhu cầu nhận hỗ trợ từ các trung tâm tư vấn, các vấn đề cần tư vấn, tần suất đến phòng tâm lý học đường, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, mối quan hệ giữa stress và nhu cầu tư vấn… Các nghiên cứu theo khuynh hướng này cho thấy những vấn đề mà học sinh, sinh viên cần hỗ trợ tâm lý thường là các mối quan hệ xã hội, sự phát triển nghề nghiệp, giá trị sống, kĩ năng học tập, việc rèn luyện và phát triển bản thân (Egbochuku, 2008; Nyutu & Gysbers, 2007; Morgan, Stiffan, Shaw & Wilson, 2007). Các kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, tần suất đến phòng tâm lý học đường của học sinh, sinh viên là khá hạn chế vì họ bị cản trở bởi nhiều nguyên nhân, như: lo ngại về tính bảo mật của thông tin cá nhân; sự phức tạp của một số quy trình tư vấn, hỗ trợ tâm lý; không tự tin vào bản thân và không tin tưởng vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của của đội ngũ hỗ trợ tâm lý học đường (Morgan, Stiffan, Shaw Wilson, 2007).
Kết quả của các nghiên cứu đồng thời cho thấy học sinh, sinh viên với nhu cầu khác nhau sử dụng các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn tâm lý khác nhau. Có thể nói, xu hướng khảo sát thực trạng tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường cũng là một xu hướng nổi bật ở các nước Châu Á hiện nay, nơi mà hỗ trợ tâm lý học đường, hỗ trợ giáo dục vẫn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ. Vì thế, những nghiên cứu về thực trạng hỗ trợ tâm lý học đường nói chung và tổ chức hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường của nhà quản lý nói riêng ở các trường là hết sức cần thiết nhằm phát triển thế hệ trẻ một cách toàn diện theo xu thế chung của thời đại. 5 Đối với các nước Âu Mỹ, xu hướng khảo sát thực trạng hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường chỉ phát triển và được chú trọng vào những năm 80 và 90 của thế kỷ XX.
Hiện nay, việc điều tra về nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường ở học sinh, sinh viên nói chung là điều tất yếu mà các trung tâm tư vấn trong các trường học từ bậc tiểu học đến bậc đại học ở các nước Âu Mỹ phải chú trọng thực hiện hàng năm, hàng quý. Việc khảo sát này hầu hết được tiến hành và xử lý một cách chuyên nghiệp và khoa học qua các hệ thống trực tuyến trên các website. Ngoài ra, có thể nhận thấy hiện nay việc nghiên cứu thực trạng hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường ở các nước Âu Mỹ hầu như chỉ hướng đến các đối tượng đặc biệt như trẻ khuyết tật, học sinh, sinh viên có năng khiếu đặc biệt (Peterson, 2006), những học sinh nổi bật nhưng lại bị khuyết tật học tập (academically talented students with learning disability) (Reis & Colbert, 2004) [dẫn theo 3]. * Xu hướng thứ hai: Phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý Theo Nyutu (2001), ban đầu, những nghiên cứu về nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý theo xu hướng điều tra (survey research) được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giản như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm (focus group) và bảng hỏi…hoặc chỉ sử dụng các công cụ đánh giá về nhu cầu (Students Needs Assessment Survey) ở học sinh, sinh viên.
Về sau, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học về thực trạng nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý ở học sinh, sinh viên nói trên, việc xây dựng và phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý có đầy đủ tính hiệu lực và độ tin cậy được chú trọng. Ở Châu Phi, thang đo “The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo nhu cầu tư vấn cho học sinh) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến. Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một nghiên cứu gần đây “Nhu cầu tư vấn của học sinh trung học phổ thông Kenya”. Nghiên cứu được thực hiện trên học sinh THPT ở Kenya.
Nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đánh giá để xác định nhu cầu tư vấn tại Kenya thay cho các công cụ đánh giá nhu cầu chung ở học sinh, sinh viên. Xu hướng này vẫn đang rất được khuyến khích tại các nước Châu Á và Châu Phi. Riêng ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ, các nghiên cứu về phát triển thang đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đang dần được chú trọng. Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, hỗ trợ đáp ứng đúng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon, Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn trong việc giúp học sinh, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong các lĩnh vực học đường và cuộc sống; 6 điều này phần lớn phụ thuộc vào các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (Corey Gerald (1991), Theory and Practice of Counseling and Psychotherapy, Brooks/Cole Publishing Company) [dẫn theo 3].
* Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu xây dựng các mô hình hỗ trợ tâm lý học đường thay đổi nội dung, chương trình hoạt động tư vấn học đường. Đây là một xu hướng nghiên cứu mang tính thực tiễn và có ý nghĩa xã hội rất lớn. Nhiều mô hình hỗ trợ tâm lý đã và đang được phát triển, mang lại hiệu quả cao tại một số trường đại học và các trường phổ thông. Ở Hoa Kỳ có mô hình tư vấn học sinh dựa trên kinh nghiệm; mô hình tư vấn của Trường Illinois (2007), mô hình tư vấn của Trường đại học tổng hợp Winsconsin (2008) và đặc biệt là mô hình tư vấn chuyển đổi của các tác giả Eschenauer và Chen - Hayes (2005) dành cho các trường học ở đô thị.
Bên cạnh đó, còn có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ tư vấn học đường tích hợp và toàn diện (năm 2010). Ở Pháp đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED). Đây là mô hình trợ giúp đặc biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi GV không có biện pháp thay thế nào. Mạng lưới RASED có hai nhiệm vụ chính là phòng ngừa và chỉnh trị, hỗ trợ.
Ở Singapore có mô hình Dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS). Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp… Các nghiên cứu đã cho thấy được nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu được tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn tâm lý. Các nghiên cứu này nói chung đều có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chẩn đoán, phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường. Hiện nay, Hiệp hội các nhà Tâm lý học đường Hoa Kỳ được xem như nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới.
ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới. Các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức…. và nhiều quốc gia khác trên thế giới [45]. 7 Như vậy, trên thế giới, cùng với bề dày phát triển của hoạt động tư vấn nói chung tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường nói riêng, các nghiên cứu theo ba khuynh hướng trên đã góp phần giúp các nhà quản lý ở các trường phổ thông, đại học có cơ sở để tìm các biện pháp tổ chức hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, hỗ trợ tâm lý học đường vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Trước đây, trong thời gian chiếm đóng miền Nam Việt Nam, Mỹ đã cho triển khai các hoạt động Khải Đạo trong các trường học. Đến năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, cách thức tiếp cận với giáo dục đã thay đổi làm cho hoạt động này không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó nữa.
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ và tâm bệnh N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thành lập đã trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tư vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình. Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp.