phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm có 3 chương 10 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Xóa đói giảm nghèo, vấn đề luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Cho đến nay có hàng trăm đề tài, công trình nghiên cứu về công tác xóa đói giảm nghèo ở nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực khác nhau, tác giả xin giới thiệu một số công trình, tác phẩm tiêu biểu.
Nghiên cứu trên thế giới “Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo” (Social work and poverty reduction, Miu Chung Yan) được nghiên cứu tại Umue - Nigeria. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống này bằng cách chứng minh các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thành công ở Nigeria. Xóa đói, giảm nghèo là một trong những thách thức của thế giới và một trong những mục tiêu của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Nghiên cứu này là một nguồn kiến thức cho các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, ngân hàng thế giới và cộng đồng quốc tế về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và tiếng nói của nhân viên xã hội trong việc lập kế hoạch và thực hiện hiện các chương trình xóa đối giảm nghèo.
Công ty Aduki trong tác phẩm “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” (NXB Chính trị quốc gia,1996) [3] phân tích thực trạng các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo của Đảng và nhà nước, trên cơ sở đó nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện giảm nghèo ở Việt Nam. Công trình “Nghèo” xuất bản năm 2003 [1] của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo của Đảng, Nhà nước trong đó nêu lên một số hạn chế về công tác tổ chức thực hiện như sự hiểu biết của đội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngũ cán bộ về chính sách chưa đầy đủ, quá trình lập kế hoạch được thực hiện từ trên xuống, sự tham gia của người dân vào việc kế hoạch, ra quyết định và thực hiện còn hạn chế. Công trình nghiên cứu “Cơ sở hạ tầng và xóa đói, giảm nghèo” (của Piere Jacquet, 2005) [15] đánh giá những lợi ích của thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đối với xóa đói giảm nghèo, trong đó khẳng định rằng các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam khi cư trú ở địa bàn có đường nhựa thì có thêm cơ hội để thoát nghèo cũng như tạo các vùng có hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp là trong những khoản đầu tư của Nhà nước được đánh giá là có tính chất phân phối lại cao nhất về mặt xã hội. Martin Ravallion, Dominique van de Walle (2008) với công trình “Đất đai trong thời kỳ chuyển đổi - Cải cách và nghèo đói ở nông thôn Việt Nam” [9] đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với người nghèo, trong đó cho rằng các viên chức nhà nước tiếp tục thực hiện tái phân bổ đất đai tại một số xã và từ đó tỷ lệ người nghèo không có đất sản xuất ngày càng gia tăng.
“Xóa đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội” (Poverty eradication and the role for social workers, Nairobi, 2010). Trong thực tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào nghèo đói. Ở cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo cùng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ. Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội.
Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vai trò khác là cộng đồng thực hành giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực. Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội. Vào những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác.
Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần. Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình. Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các cá nhân và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả [21]. Mục tiêu và phổ quát trong vệc giảm nghèo (Targeting and universalism in porverty reduction, Thandika Mkandawire, 2005).
Công trình này được chia làm hai phần. Trong phần đầu tiên, Thandika Mkandawire thảo luận về các lực lượng đằng sau sự chuyển đổi từ phổ quát đối với chọn lọc trong việc sử dụng chính sách xã hội để chống lại đói nghèo ở các nước đang phát triển. Trong phần hai, một đánh giá của các bài học từ chính sách như vậy, ông cho rằng những khó khăn hành chính hướng mục tiêu vào các nước nghèo, các cơ sở kinh tế chính trị của các lựa chọn chính sách, và các hậu quả của việc lựa chọn chính sách khuyến khích cá nhân, Mkandawire đặc biệt chú trọng hiệu quả chi phí, bởi vì những người ủng hộ của chọn lọc trong cuộc chiến chống đói nghèo nâng cao nó như là đối số chính trong lợi của mình. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vai trò của quỹ tín dụng trong xóa đói giảm nghèo: Nghiên cứu của Remenyijoe, Benjamin Quinones đã chứng minh được mức tăng thu nhập từ những hộ được nhận tín dụng nhỏ cao hơn những nhóm hộ đối chứng (nhóm không vay).
Ở Indonesia, mức tăng thu nhập trung bình hàng năm của những hộ có vay tăng lên 12,9 % so với mức tăng 3% của nhóm đối chứng. Các nghiên cứu trên đã góp phần đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo và vai trò của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo và chúng ta có thể khái quát lại bằng 3 điểm cơ sau: Thứ nhất, các nghiên cứu này chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng, nhằm mục đích tìm hiểu để đề xuất những can thiệp, hỗ trợ tốt hơn trong công tác xóa đói giảm nghèo. Thứ hai, các nghiên cứu này đã đưa ra những phát hiện và những khó khăn trong thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo. Thứ ba, các nghiên cứu này đưa ra những đề xuất cho việc giải quyết và tăng cường hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi vào nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo. Nghiên cứu trong nước Tác giả Bùi Thế Giang (1996) với nghiên cứu: “Vấn đề nghèo ở Việt Nam”. Tác giả đã đưa ra những vấn đề chung nhất về tình hình nghèo đói ở Việt Nam, những tác động của nghèo đói lên đời sống dân cư và an sinh của xã hội, những khía cạnh, vấn đề của nghèo đói; góp phần đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo và vai trò của công tác xã hội trong xóa đói, giảm nghèo. Tác giả Lê Xuân Bá và các đồng nghiệp với công trình: “Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”, đã đưa ra được cái nhìn chung, tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ, khía cạnh khác 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau, các tác giả còn đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững. Tác giả Nguyễn Hải Hữu (2004) với bài viết: “Phát huy kết quả đạt được - vượt qua thách thức - về sớm mục tiêu”, (Tạp chí Lao động và Xã hội). [5] Tác giả đã đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, từ đó nêu một số kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói, giảm nghèo. Tác giả Phạm Di (2005) với bài viết: “Chương trình quốc gia xóa đói, giảm nghèo - một nhân tố mới trong quản lý của nhà nước ta”.
[18] Tác giả đã phân tích những điểm mới của chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo của chính phủ, trong đó cho rằng tầm quản lý và điều chỉnh chương trình ở cấp độ vĩ mô cho phép thực hiện những đầu tư lớn và đa dạng hơn về các nguồn lực. Chương trình có những điểm nhấn ưu tiên, quan điểm tiếp cận chính xác và được chia sẻ rộng rãi hơn, đặc biệt là quan điểm về tham gia của người dân và cộng đồng. Tác giả Ngô Trường Thi (2006) với vấn đề:“Phân công giúp đỡ xã nghèo ở địa phương”.[10] Tác giả đã phân tích sự cần thiết của việc phân công giúp đỡ các xã nghèo ở địa phương, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm thực hiện sự phân công giúp đỡ các xã nghèo hiệu quả. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc (2006): “Cho vay đối với vùng nghèo, thuận lợi, khó khăn và giải pháp” [2] đi vào phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện chính sách cho vay vốn ở vùng nghèo, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách cho vay vốn.