MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghèo khổ hiện nay đang là một vấn đề xã hội không chỉ ở cấp vùng, quốc gia, khu vực mà còn mang tính toàn cầu. Xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc(LHQ), các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, các tổ chức phi chính phủ đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp và ngay trong nhận thức của mỗi người dân. Trên bình diện toàn cầu, LHQ xác định xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Hội đồng kinh tế - xã hội của LHQ được giao trách nhiệm đặc biệt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Các tổ chức khác của LHQ như chương trình phát triển LHQ cũng có trách nhiệm phối hợp với các chính phủ, các tổ chức tiền tệ - tài chính thế giới hỗ trợ các nước xóa đói giảm nghèo. Ở phạm vi quốc gia, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định xóa đói giảm nghèo là một trong những hành động được ưu tiên nhất. Và thực tế các hành động xóa đói giảm nghèo đã và đang được triển khai mạnh mẽ trên diện rộng ở Việt Nam.
Trong Báo cáo "Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những thách thức mới" của Ngân hàng thế giới ngày 24/1/2013, cũng ghi nhận: Trong vòng 20 năm (1990-2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế. Tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học của người nghèo là trên 90% và ở bậc trung học cơ sở là 70%. Trình độ học vấn tăng và sự đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp, cơ hội làm việc ở công trường, nhà máy.
cũng đóng góp tích cực cho công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Cũng theo đánh giá của Oxfam, một tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 7,6% cuối năm 2013. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, trên toàn quốc vẫn còn 6 -10% tỷ lệ người nghèo. Và nghèo đói dẫn đến nhiều rủi ro, rơi vào vòng luẩn quẩn, thiếu nguồn lực hỗ trợ nên gia đình không có kinh tế và dẫn đến các thành viên trong gia đình không được đầu tư học hành, trở thành những con người kém cỏi.
Từ trình độ và sự kém hiểu biết, không biết tiếp cận năng lực và khoa học kĩ thuật, có vốn nhưng không biết làm gì với nguồn vốn ấy, từ đó người nông dân lại nghèo. Nhưng mà chúng tôi thấy rằng, điều nghiêm trọng hơn khi mà người phụ nữ nói chung, người ta vẫn còn đấu tranh với bình đẳng và bình dục, bây giờ lại cộng thêm cái nghèo nữa thì người phụ nữ lại càng vất vả và rủi ro hơn và bị loại trừ xã hội, công ăn việc làm bấp bênh. Điều này đồng nghĩa với việc phụ nữ nghèo ở nông thôn vẫn chịu rất nhiều khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống. Họ là nhóm xã hội thường có học vấn thấp, nhận thức hạn chế, ít được đào tạo nghề, điều kiện tiếp cận với các nguồn lực và sức khoẻ hạn chế, thời gian dành cho gia đình lớn, gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế, sinh hoạt,.đó là những cản trở đối với phụ nữ và là những nguy cơ khiến chị em dễ rơi vào cảnh đói nghèo, nhất là phụ nữ vùng sâu, vùng xa, phụ nữ đơn thân, phụ nữ nông thôn, phụ nữ trong các gia đình chính sách.
Chị em thường là những người đầu tiên rơi vào vòng đói nghèo nhưng lại là những người thoát khỏi đói nghèo cuối cùng. Trong lĩnh vực việc làm, phụ nữ cũng thường mất việc làm đầu tiên và là được tuyển dụng cuối cùng do những cản trở về giới, tiềm năng của phụ nữ vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Chính vì vậy một vấn đề đặt ra là tình hình việc làm cho các hộ gia đình nghèo đã bấp bênh, nhưng tình hình việc làm của người phụ nữ nghèo trên khu vực nông thôn miền núi còn bấp bênh và khó khăn hơn nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Lam Cốt - Một xã miền núi nằm cách xa trung tâm huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên hơn 911,92 ha, có 2058 hộ và 7521 khẩu, tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1,03%, với 24 thôn xóm, đời sống người dân chủ yếu làm nông nghiệp.
Xã có 422 hộ nghèo (chiếm 20,5% tổng số hộ dân) [32, tr. Đối với công tác giảm nghèo, nhất là các hộ do phụ nữ làm chủ luôn được huyện Tân Yên 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và xã đặc biệt quan tâm. Trong số những hộ nghèo ấy thì hộ phụ nữ nghèo còn rất đông, phụ nữ nghèo trong xã vừa là đồng chủ hộ trong gia đình nghèo vừa là chủ hộ gia đình nghèo, là phụ nữ nghèo đơn thân. Vấn đề nghèo đói đã và đang có rất nhiều nghiên cứu, đặc biệt nghiên cứu về phụ nữ nghèo.
Nghiên cứu về chuyện vì sao họ nghèo, về bình đẳng giới trong việc làm, lồng ghép giới, giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo hay các chính sách cho phụ nữ nghèo, những yếu tố tác động đến nguyên nhân của phụ nữ nghèo đói rất nhiều. Nhưng nghiên cứu dưới góc độ liên kết nguồn lực nhằm hỗ trợ phụ nữ nghèo tạo dựng việc làm thì vẫn còn rất ít. Và đi đến việc chúng tôi đặt ra câu hỏi chính “Người phụ nữ nghèo dựa vào nguồn lực cộng đồng như thế nào để được hỗ trợ tạo dựng việc làm trong nghiên cứu này”. Chính vì quan tâm xuyên suốt của chúng tôi như vậy, nên chúng tôi đi đến quyết định lựa chọn đề tài: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ phụ nữ nghèo nông thôn tạo dựng việc làm (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lam Cốt, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang)”.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên kết nguồn lực có rất nhiều nghiên cứu như trong kinh tế học, tâm lý học xã hội và xã hội học. Đó là những nghiên cứu về lồng ghép giới trong xóa đói giảm nghèo, nghiên cứu xã hội học về giới; Phụ nữ nghèo v. Thế nhưng nghiên cứu để dựa vào cộng đồng nhằm tạo việc làm, đặc biệt là hỗ trợ người phụ nữ nghèo ở nông thôn tạo dựng việc làm thì chưa phải là nhiều. Các nghiên cứu những năm đầu của thập niên 1990 Ở nước ta, những nghiên cứu về nghèo đói được tiến hành từ những năm đầu của thập niên 1990: nhiều cuộc hội thảo khoa học với nhiều nghiên cứu thực địa do các cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (Ngân hàng thế giới, Liên Hợp Quốc, tổ chức ActionAid - Việt Nam, Oxfam tại Việt Nam .) đã dần phác họa bức tranh toàn cảnh ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô về tình hình nghèo đói nói chung và với phụ nữ nghèo nông thôn nói riêng, nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước đây, khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970) [6]. Theo nhà khoa học nữ này thì cho đến những năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ thường là những người có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp, nhưng những đóng góp của họ không được tính đến trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và thực hiện các dự án phát triển. Cuốn sách của E. Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại vấn đề trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ.
Qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châu Phi. Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể cả những nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách đúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng của phụ nữ. Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của Lê Thị Nhâm Tuyết (1973, 1975). Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Đặc biệt về vai trò truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp. Cuốn sách đã trình bày nhiều tư liệu có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu. Sau gần một phần tư thế kỷ, tác giả cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI”. Như lời giới thiệu cuốn sách của GS.
Vũ Khiêu: Cuốn sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề lớn của người phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộc điều tra khoa học. Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội. Cuốn sách về Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” (1997)của Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, nghiên cứu về chính sách việc làm ở việc làm ở Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nội dung về công trình có thể khái quát trên một số vấn đề chủ yếu sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhât, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm. Các tác giả cho rằng “vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải tạo ra điều kiện và cơ hội đẻ người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đính, đồng thời góp phần cho xẫ hội.
Đó là nội dung cơ bản của chính sách việc làm”.