Chương 1 của luận văn. Phỏng van sâu 01 nhân viên công tác xã hội có kinh nghiệm 13 năm trong hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới. Phỏng vấn sâu 01 quản lý Ngôi nhà Bình yên có kinh nghiệm từ 15 năm trong hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực giới, đặc biệt là hỗ trợ pháp lý. Nội dung chủ yếu: Hậu quả của bạo lực với phụ nữ, Quá trình cung cấp dịch vụ CTXH tại NBY, thuận lợi khó khăn trong quá trình cung cấp dịch vụ, đặc biệt dịch vụ hỗ trợ pháp lý, Kinh nghiệm khi xử lý các vấn đề liên quan đến pháp lý.
17 Phỏng vấn sâu 01 luật sư có nhiều kinh nghiệm tham gia hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới và có sự hợp tác tốt với NBY. Nội dung phỏng vấn sâu Hậu quả bạo lực với phụ nữ, quan điểm khi tham gia các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ; thuận lợi, khó khăn khi hỗ trợ \. Các nội dung phỏng vấn sâu được sử dụng tại Chương 2 của Luận văn, nhằm minh hoạt cho việc tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng của bạo lực trên cơ sở giới, đồng thời làm sáng tỏ các dịch vụ hỗ trợ tại NBY đặc biệt là dịch vụ pháp lý. Phương pháp thu thập thông tin can thiệp Trong quá trình can thiệp, tác giả dự kiến sử dụng một số kỹ thuật của CTXH để thu thập thông tin từ thân chủ nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, xác định vấn đề và lập kế hoạch can thiệp, ví dụ: cây cuộc đời, công cụ SWOT, kỹ thuật tham van trò chuyện, hệ thống sinh thái.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CAN THIỆP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC TRÊN CƠ SỞ GIỚI Đây là chương cung cấp các thông tin liên quan cơ sở lý luận cho quá trình vận dụng CTXH cá nhân với nhóm phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới. Nội dung cua Chương bao gồm: khái niệm phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới; các nguyên tắc cơ ban trong CTXH cá nhân hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới; Dịch vụ CTXH hỗ trợ phụ nữ bi bạo lực trên cơ sở; mô hình CTXH cá nhân hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới. Đồng thời, chương này cũng giới thiệu về mô hình CTXH cá nhân hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới và một vài lý thuyết được sử dụng (hệ thống sinh thái, nhận thức hành vi) và các chủ trương của Đảng và Luật pháp chính sách của nhà nước đối với phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới. Chương này cũng tập trung giới thiệu NBY một trong những cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới, tìm hiểu chân dung xã hội của phụ nữ bị bạo lực, thực trạng và nguyên nhân của những vụ việc bạo lực với phụ nữ đang tạm lánh tại NBY.
Ngoài ra chương cũng cập trung giới thiệu về dịch vụ CTXH của NBY. Nội dung của chương được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, thông tin quản lý hành chính của NBY và phỏng van sâu phụ nữ. Khái niệm công cụ chính 1. Phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới: Khái niệm Giới: Chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (khoản 1, Điều 5, Luật Binh dang giới 2006) Khái niệm bạo lực trên cơ sở giới đã trải qua nhiều giai đoạn ké từ khi bắt đầu các nghiên cứu và phân tích về bạo lực dựa trên khái niệm bat bình đăng giới và bạo lực đối với phụ nữ.
Năm 1992, Uy ban về xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (gọi tắt là Ủy ban CEDAW), trong Khuyến nghị chung thứ 19, giới thiệu một trong những định nghĩa đầu tiên về bạo lực trên cơ sở giới được quốc tế công nhận như sau: “Bao lực trên cơ sở giới là một hình thức phân biệt đổi xử; bạo lực nhằm vào một phụ nữ vì người đó là phụ nữ hoặc gây ra sự mất công bằng đổi với phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gốm các hành động gây đau đớn về thể xác, tỉnh thần hay tình dục, bao gốm cả sự đe dọa thực hiện những hành động này, sự cưỡng bức hay tước đoạt tự do dưới các hình thức khác nhau ” (Đề xuất thứ 19, đoạn 6 của Kỳ họp thứ 11 Hội đồng CEDAW, 1992). Định nghĩa nay có ý nghĩa quan trọng vì đã chỉ ra rằng bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực về tâm lý, tình dục và thể xác và gây ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Trên cơ sở khuyến 19 nghị này của CEDAW, Tuyên bố về Xóa bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ 1993 nêu rõ bạo lực trên cơ sở giới là: “Bát kỳ một hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới mà gây tồn hại hoặc đau đớn cho phụ nữ về mặt về thân thể, tình dục hoặc tâm lý, kể cả việc de dọa thực hiện những hành động như vậy, sự ép buộc hay tước đoạt sự tự do, cho đù xảy ra ở nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư” (Đại hội đồng LHQ, 1993) [7, tr.
Bao lực trên cơ sở giới phải được hiểu là bao gồm, nhưng không giới han ở những hình thức sau: a) Bao lực thé xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình, gồm cả hành vi đánh đập, bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục trẻ em trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi môn, cưỡng hiếp trong hôn nhân, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ và các hủ tục khác gây hại đến phụ nữ, bạo lực không phải do bạn tình gây ra và bạo lực liên quan đến bóc lột; b) Bạo lực thé xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong cộng đồng, bao gồm: cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục, quấy rối và sàm sỡ tình dục tại nơi làm việc, trong các cơ sở giáo dục hoặc bất kỳ đâu; mua bán phụ nữ và mại dâm cưỡng bức; c) Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý được gây ra hoặc được bỏ qua bởi Nhà nước và các tổ chức hoặc cho dù xảy ra ở bat cứ đâu [7, tr. Các hình thức bạo lực trên cơ sở giới phố biến tại Việt Nam Tại Việt Nam, có một số hình thức bạo lực giới đang phổ biến: bạo lực gia đình (BLGD), mua bán người (MBN), bao lực tình dục (BLTD), tảo hôn và hôn nhân cưỡng bức (phô biến tại các vùng đồng bào dân tộc thiêu số). Mặc dù khái niệm bạo lực trên cơ sở giới là khái niệm rộng; phụ nữ, nam giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều có thé trở thành nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới, phụ nữ và trẻ em gái thường là nạn nhân chủ yếu. Bạo lực trên cơ sở giới có phạm vi trong gia đình và ngoài xã hội, như vậy bao lực trên cơ sở giới có định nghĩa bao hàm và rộng hơn BLGĐ.
Vi vậy trong nghiên cứu nay chỉ tập trung vào phụ nữ bi bạo lực trên cơ sở giới đồng thời, khi nhắc đến phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới là nhắc đến phụ nữ bị các loại bạo lực đang tạm lánh tại NBY. Nguyên nhân của bạo lực trên cơ sở giới Từ khái niệm bạo lực trên cơ sở giới đã được trình bày ở trên đã cho thấy nguyên nhân của bạo lực đối với phụ nữ chính là những biến động về quyền lực giới (gendered power dynamics). Từ đó, người ta nhận ra rằng bất bình dang về quyền lực châm ngòi cho bạo lực đối với phụ nữ [7, tr. 12] Hơn nữa, mô hình “bánh xe quyền lực và kiểm soát” là minh chứng rõ về nguyên nhân cơ ban của bao lực trên cơ sở giới.
20 Bánh xe Quyén lurc va Kiém soat Nguon: 15, tr.12 Quyền lực và quyền kiêm soát cuộc sống của phụ nữ van được xem là cơ sở của bạo lực giới do chồng/người tình gây ra. Bánh xe quyền lực và kiểm soát! đưa ra một sơ đồ khung giúp chúng ta hiểu được các biểu hiện và kỹ xảo của quyền lực và kiểm soát trong quan hệ vợ chồng/quan hệ bạn tình. Những kỹ xảo này bao gồm như hăm dọa, không cho sử dụng tiền mặt, hạn chế cơ hội việc làm, cô lập và ngược đãi về tình cảm. Mặc dù các mối quan hệ bất bình đẳng giới và sự kiểm soát của nam giới đối với mọi khía cạnh cuộc sông của người phụ nữ là nguyên nhân cốt lõi của bạo lực giới, nhưng rất nhiều yếu tố khác có thể làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của các hành vi bạo lực như vậy.
Những yếu tố đó bao gồm như truyền thống bạo lực trong gia đình, tệ nghiện rượu ở đàn ông, và rỗi loạn nhân cách. Tuy nhiên không thể xác định được yếu té nào là 'nguyên nhân" chính của bạo lực giới. Hon nữa các yếu tố dẫn đến bạo lực giới có ở nhiều cấp độ khác nhau, chứ không chỉ ở cấp độ cá nhân [15, tr.14] Mặt khác, một số các yêu tố làm gia tăng nguy cơ bạo lực với phụ nữ. Phụ nữ có chồng uống rượu hàng ngày có thé chịu nguy cơ chịu bạo lực cao gấp 7 lần so với phụ nữ có chồng không bao giờ uống rượu; nhưng ngay cả khi người chồng chỉ uống 1 lần 1 tháng, nguy cơ chịu bạo lực của vợ người này vẫn cao gấp 3 lần.
Phụ nữ có chồng đã từng đánh nhau với người khác, chịu nguy cơ về bạo lực cao gấp 5 ! Domestic Abuse Intervention Project (Dự án Can thiệp chống bạo hành gia đình), trích dẫn trong Wolfe, David A. 21 lần và nếu người chồng có quan hệ ngoài hôn nhân, nguy cơ chịu bạo lực của người vợ cao gấp 3.4 lần so với những phụ nữ khác. Bạo lực do chồng gây ra có liên quan chặt chẽ tới những trải nghiệm về bạo lực của cả người vợ lẫn người chồng trước hôn nhân của họ cũng như trải nghiệm bạo lực của cả mẹ vợ hoặc mẹ chong. Hoc van, kinh tế của phụ nữ, số con, tuổi của chồng và vị tri địa lý có ảnh hưởng đến nguy cơ bị bạo lực của phụ nữ.
Một yếu tố đáng dé cập ở đây là tinh trạng đóng góp vào tài chính của hộ của phụ nữ so với chồng. Trong nghiên cứu có 14% phụ nữ đóng góp nhiều hơn chồng, họ có nguy cơ cao gấp 2.4 lần về bạo lực khi so với những phụ nữ đóng góp vào kinh tế hộ ít hơn chồng.