Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 1. Các quan điểm về ODA 1. Động cơ viện trợ ODA UNDP (1992) cho rằng ODA được quyết định không phải từ nhu cầu ở các nước đang phát triển mà bởi thiện ý của người dân và chính phủ ở các nước giàu có, vì thế những khoản viện trợ này thường mang tính thời điểm và rất khó dự đoán.
Ngoài ra, Bandyopadhyay và Katarina (2013) khẳng định động cơ viện trợ của các quốc gia biến đổi theo thời gian do những diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị trên thế giới đã tác động tới quá trình ra quyết định của các quốc gia tài trợ [43]. Lý thuyết của chủ nghĩa lý tưởng, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực mới cũng kết luận động lực viện trợ các quốc gia thường không chỉ hướng tới một mục tiêu mà thay vào đó họ sẽ tìm cách để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu này (trợ giúp nhân đạo, mục tiêu kinh tế và lợi ích chiến lược), song mức độ ưu tiên đối với từng mục tiêu có thể sẽ khác nhau. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các nguồn viện trợ được phân bổ theo những động cơ chính trị nhiều hơn là xuất phát từ nhu cầu kinh tế. Về động cơ theo đuổi các lợi ích chiến lược, các nghiên cứu nhấn mạnh tới hai lợi ích chiến lược chủ yếu của các nước viện trợ khi sử dụng nguồn vốn ODA đó là gia tăng sức mạnh, tầm ảnh hưởng của mình và góp phần bảo vệ quốc phòng - an ninh quốc gia [38].
Ưu tiên hàng đầu của các chính phủ luôn là vấn đề an ninh; vì thế, ODA giống như một công cụ để các nước viện trợ thúc đẩy lợi ích kinh tế và chính trị của mình bằng cách cho phép họ “gây ảnh hưởng, ủng hộ hoặc trừng phạt các quốc gia khácˮ. Viện trợ đóng vai trò như một công cụ thực hiện chính sách ngoại giao, theo đó nhờ có ODA các nước viện trợ có thể mở rộng quy mô ảnh hưởng, nâng cao khả năng thâm nhập thị trường và gia tăng lợi ích cho nhóm cầm quyền hay hình thành các liên minh 13 hợp tác, cản trở chính phủ các nước nhận viện trợ ủng hộ hoặc đi theo quốc gia đối lập với nước viện trợ [39]. Ngoài ra, viện trợ ODA còn góp phần thúc đẩy an ninh ở các nước viện trợ thông qua chương trình hỗ trợ giảm thiểu nguy cơ khủng bố ở các quốc gia đang phát triển [42]. Theo luận điểm của nhóm tác giả, các khoản viện trợ hướng tới những nỗ lực chống khủng bố ở nước tiếp nhận, hoặc thông qua việc hạn chế năng lực và sự phát triển của các tổ chức khủng bố ở địa phương, hoặc thông qua việc cải thiện điều kiện sống của người dân (nguyên nhân gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố là nghèo đói, tư tưởng hận thù và vô vọng), nâng cao nhận thức của các chính phủ về chống khủng bố.
Van der Veen’s (2011) cho rằng một số nước hiện nay còn sử dụng vốn viện trợ nhằm nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Ví dụ như Hà Lan và Na Uy luôn duy trì mức viện trợ nước ngoài cao hơn hẳn các quốc gia phương Tây khác để xây dựng hình ảnh quốc gia như một công dân toàn cầu hào phóng [151]. Về động cơ kinh tế, mặc dù khẳng định viện trợ nước ngoài thường chứa đựng đồng thời cả ba động cơ kinh tế, chính trị và hỗ trợ nhân đạo, song Nowak-Lehmann và các đồng sự (2008) lại tập trung phân tích mối quan hệ giữa ODA và mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng thương mại [111]. Các tác giả nhận định một mặt, viện trợ ODA thường đi kèm với những ràng buộc đối với quốc gia nhận viện trợ, buộc các quốc gia này phải mua sắm thiết bị, vũ khí, nguyên vật liệu, máy móc và các loại hàng hóa khác, sử dụng các dịch vụ tư vấn, chuyên gia.
từ các quốc gia viện trợ hoặc ít nhất là từ các tập đoàn của quốc gia viện trợ. Quy định này thúc đẩy cơ hội kinh doanh, lợi nhuận cũng như hoạt động xuất khẩu cho các quốc gia viện trợ [39]. Tuy nhiên, dù ODA có hay không có kèm theo những ràng buộc về hoạt động mua sắm thì nguồn vốn này vẫn góp phần làm gia tăng thương mại cho nước phát triển [40]. Lý giải cho vấn đề này, Arvin và Choudry (1997) cho rằng viện trợ ODA thường đi kèm với các thỏa thuận ưu đãi thương mại hay các hiệp định thương mại 14 với thuế suất ưu đãi - tạo động lực để các quốc gia trao đổi hàng hóa, gia tăng giá trị thương mại [40].
Vogler et al. Bên cạnh đó, ODA cũng là cơ hội để các nước viện trợ khai thác các nguyên liệu đầu vào (dầu mỏ, khoáng sản.) ở các nước nhận viện trợ. Khẳng định động cơ khai thác tài nguyên của các nước viện trợ ODA, Morrison (2007) phản ánh một thực tế là hiện nay các nước viện trợ thường lựa chọn những quốc gia giàu tài nguyên để cung cấp ODA, đổi lại họ có thể vừa sử dụng tài nguyên, vừa không cần phải đáp ứng những tiêu chuẩn ngặt nghèo về kinh doanh, môi trường [103]. Về trợ giúp nhân đạo và phổ biến các giá trị dân chủ, viện trợ nước ngoài được cho là công cụ để đối phó với tình trạng đói nghèo, cải thiện sức khỏe cho người dân và bảo vệ quyền con người [43].
Đối với một số quốc gia viện trợ, động lực trợ cấp còn hình thành từ cảm giác hối hận muốn bù đắp lại những sai lầm trong quá khứ, ví dụ như quá khứ bóc lột ở các quốc gia thuộc địa [50]. Nếu những khoản viện trợ thực chất là thiện ý của các nước tài trợ thì động lực này cũng mang lại các tác động tích cực đối với nước tiếp nhận. Tác động của ODA Tác động đối với các nước tiếp nhận ODA Nghiên cứu đánh giá tác động của ODA đối với các nước nhận viện trợ khá đa dạng, bao gồm những đánh giá định tính và định lượng, những đánh giá toàn diện trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội. Về tác động kinh tế, một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng ODA mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội nhất định cho các nước tiếp nhận, đặc biệt là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
World Bank (1998) cho rằng viện trợ nước ngoài đã hỗ trợ đắc lực cho các quốc gia như Botswana, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam hay Ghana vượt qua thời kỳ khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển nhanh thông 15 qua hỗ trợ tạo dựng môi trường chính sách tốt, hỗ trợ xây dựng chính sách phát triển, đào tạo đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách công, tài trợ cho các chương trình cải cách và mở rộng dịch vụ công… Sachs (2005) nhấn mạnh ODA tạo ra “lực đẩy lớnˮ giúp tăng vốn huy động, tạo điều kiện thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ và quá trình chuyển giao kỹ năng, kinh nghiệm kinh doanh. – động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế [130]. Ngoài ra, ODA tạo ra “hiệu ứng tiên phongˮ - góp phần thu hút thêm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhờ tạo dựng được môi trường kinh doanh thông thoáng, xóa bỏ được các rào cản đối với thu hút FDI trước đây như cải thiện thủ tục hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của nhà nước đối với các khu vực kinh tế [83]. Tuy nhiên, Hansen & Tarp (2001) nhấn mạnh rằng ODA chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia đang phát triển khi các quốc gia này duy trì được một môi trường kinh tế - chính trị ổn định [71].
Không những vậy, các nguồn viện trợ có thể khiến các quốc gia nghèo khó ngày càng chìm sâu trong nợ nần và nghèo đói. Nghiên cứu của Bräutigam (2000) đề cập tới dòng viện trợ đổ vào vùng Cận Sahara châu Phi như một minh chứng cho thấy mô hình “lực đẩy lớnˮ trên thực tế đã không thực sự đem lại hiệu quả. Bất chấp một lượng vốn ODA khổng lồ đổ vào khu vực này (hơn 1 nghìn tỷ USD trong 50 năm) nhưng GDP của khu vực không những không tăng mà còn giảm, thậm chí trong nhiều năm khu vực còn chứng kiến tăng trưởng GDP ở mức âm [44]. Về tác động an ninh – chính trị, rất nhiều học giả cho rằng ODA thực chất đem lại những tác động tích cực đối với chất lượng quản trị và theo đó góp phần thúc đẩy dân chủ, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở các quốc gia nhận viện trợ [141].
Luận điểm mà các nghiên cứu này đưa ra đó là: i) vốn viện trợ ODA thường đi kèm với đội ngũ cán bộ nước ngoài có chuyên môn, trình độ - đây là cơ hội để chính phủ các nước 16 tiếp nhận ODA học hỏi kinh nghiệm, từ đó cải thiện cách thức quản lý, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia; ii) trách nhiệm giải trình cũng được nâng cao do có sự giám sát từ bên ngoài từ các quốc gia viện trợ cùng với các công cụ mang tính điều kiện buộc chính phủ các nước nhận viện trợ phải cải cách cách thức quản lý quốc gia, nâng cao hiệu quả và chống tham nhũng. Mặt khác, những quốc gia này cũng muốn cải thiện hình ảnh để có thể nhận được ODA trong tương lai; iii) ODA còn giúp tăng lương cho đội ngũ cán bộ, giảm động cơ tham nhũng của bộ phận này [90]. Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu lại nhấn mạnh tới những hệ lụy chính trị nghiêm trọng mà ODA để lại cho các nước tiếp nhận [90]. Chia sẻ quan điểm này, Svensson (2002) cho rằng nguồn viện trợ được sử dụng bởi đội ngũ cán bộ - những người chỉ mong muốn phục vụ cho lợi ích cá nhân của mình - không chỉ làm mất tính hiệu quả của khoản viện trợ mà còn làm gia tăng tình trạng tham nhũng [139].
Viện trợ tăng, chính phủ các nước tiếp nhận trở nên ít có trách nhiệm hơn với quyết định của mình bởi xung đột về lợi ích liên quan tới nguồn tài chính viện trợ. Trong khi đó, một số còn cố tình tạo ra các chính sách kinh tế và các thể chế chính phủ yếu kém nhằm tạo bàn đạp cho mục đích tham nhũng [90]. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa viện trợ ODA với dân chủ, Svensson (2002) nhận định các nhà nước dân chủ hơn thường có xu hướng phân chia các nguồn viện trợ đúng đối tượng hơn [139].