Luận văn: Thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công tại Đông Giang, Quảng Nam

Luận văn về thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công tại Đông Giang, Quảng Nam. Phân tích, đánh giá và giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp
87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết cấu của Luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

1.1. Người có công...

2. CHƯƠNG 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCC với cách mạng trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

3. Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCC với cách mạng trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

Tóm tắt

I. Khám phá chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng là một chủ trương lớn, thể hiện sâu sắc đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Đây không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến to lớn của các thế hệ đi trước. Tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, việc triển khai chính sách này là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đảm bảo an sinh xã hội, giúp các gia đình chính sách có nơi ở ổn định, an toàn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

1.1. Cơ sở pháp lý và ý nghĩa nhân văn của chính sách

Chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công được xây dựng dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc, bao gồm các văn bản quan trọng như Quyết định 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (đã được sửa đổi, bổ sung qua nhiều thời kỳ, gần nhất là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14). Các văn bản này thể chế hóa chủ trương của Đảng, tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ để thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa. Về mặt ý nghĩa, chính sách này mang giá trị nhân văn sâu sắc, là sự đãi ngộ đặc biệt của Nhà nước và xã hội đối với những hy sinh, mất mát của gia đình chính sách. Việc đảm bảo một mái nhà kiên cố không chỉ giải quyết nhu cầu vật chất cấp thiết mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp họ vơi đi những khó khăn, tiếp tục khẳng định vai trò trong cộng đồng.

1.2. Mục tiêu cốt lõi Cải thiện nhà ở đảm bảo an sinh

Mục tiêu chính của chính sách là giải quyết dứt điểm tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ người có công, đảm bảo mọi gia đình đều có nơi ở an toàn, ổn định. Theo đó, chương trình tập trung vào hai hình thức hỗ trợ chính: xây mới nhà ở cho các hộ có nhà bị hư hỏng nặng, nguy cơ sập đổ và sửa chữa nhà ở cho các hộ có nhà bị hư hỏng nhưng vẫn có thể gia cố. Việc thực hiện thành công mục tiêu này không chỉ trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng ưu tiên mà còn góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội bền vững tại địa phương. Như tài liệu đã nêu, mục tiêu là phấn đấu "100% gia đình có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú".

II. Phân tích khó khăn khi hỗ trợ nhà ở tại huyện Đông Giang

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công tại huyện Đông Giang vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Những vướng mắc này xuất phát từ cả yếu tố khách quan như đặc điểm địa hình, điều kiện kinh tế và các yếu tố chủ quan trong công tác quản lý, phối hợp. Việc nhận diện rõ các rào cản này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả, đảm bảo chính sách thực sự đi vào cuộc sống và đến đúng đối tượng cần hỗ trợ.

2.1. Thách thức trong việc rà soát xét duyệt hồ sơ đề nghị

Công tác rà soát, lập danh sách và xét duyệt hồ sơ là bước đầu tiên nhưng cũng là khâu phức tạp nhất. Huyện Đông Giang có địa hình miền núi chia cắt, dân cư phân bố không tập trung, gây khó khăn cho việc đi lại, khảo sát thực tế tình trạng nhà ở. Một số trường hợp hồ sơ, giấy tờ chứng minh bị thất lạc qua thời gian hoặc chưa đầy đủ, đòi hỏi quá trình xác minh phức tạp. Bên cạnh đó, việc xác định thứ tự ưu tiên giữa các hộ gia đình cũng là một bài toán khó, cần sự công tâm, minh bạch tuyệt đối từ cấp cơ sở để tránh khiếu nại, thắc mắc. Đảm bảo "không để người thực sự có công mà không được xem xét công nhận và thụ hưởng chính sách" là một yêu cầu cấp thiết nhưng đầy thách thức.

2.2. Vấn đề về nguồn vốn ngân sách và huy động xã hội hóa

Nhu cầu hỗ trợ nhà ở trên địa bàn là rất lớn, trong khi nguồn vốn ngân sách nhà nước có hạn và phải phân bổ cho nhiều chương trình, mục tiêu khác nhau. Tài liệu gốc cho thấy, dự kiến kinh phí cho giai đoạn 2019-2021 tại tỉnh Quảng Nam là hơn 335 tỷ đồng, một con số không nhỏ. Việc đảm bảo kinh phí hỗ trợ kịp thời, đầy đủ cho tất cả các đối tượng được phê duyệt đôi khi gặp phải độ trễ nhất định. Ngoài ra, công tác huy động các nguồn lực xã hội hóa, vận động doanh nghiệp, cộng đồng cùng chung tay tuy đã được triển khai nhưng kết quả còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách khuyến khích hiệu quả hơn.

III. Hướng dẫn quy trình hỗ trợ nhà ở cho người có công

Để đảm bảo chính sách được thực hiện một cách công khai, minh bạch và đúng đối tượng, một quy trình chuẩn hóa từ khâu lập hồ sơ đến nghiệm thu đã được xây dựng và áp dụng. Quy trình này có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, ban ngành từ cấp tỉnh đến cấp xã, đứng đầu là Sở Lao động - Thương binh và Xã hộiUBND huyện Đông Giang. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quy trình là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chương trình hỗ trợ.

3.1. Quy trình lập phê duyệt hồ sơ đề nghị hỗ trợ

Quy trình bắt đầu từ cấp thôn, nơi các hộ gia đình nộp đơn đề nghị hỗ trợ kèm giấy tờ chứng minh và hình ảnh hiện trạng nhà ở. UBND cấp xã thành lập Ban chỉ đạo, tổ chức kiểm tra thực tế, lập biên bản xác nhận hình thức hỗ trợ (xây mới hoặc sửa chữa) và niêm yết công khai danh sách. Sau đó, hồ sơ đề nghị hỗ trợ được tổng hợp và gửi lên UBND cấp huyện. Tại đây, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các phòng ban liên quan rà soát, đối chiếu và trình UBND huyện Đông Giang phê duyệt danh sách cuối cùng. Quyết định phê duyệt sẽ nêu rõ danh sách, mức vốn, nguồn vốn và trách nhiệm của các bên liên quan.

3.2. Vai trò phối hợp của các cơ quan trong triển khai

Sự thành công của chính sách đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ. UBND huyện Đông Giang đóng vai trò chỉ đạo tổng thể, phân công nhiệm vụ cụ thể. Phòng LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm chính về đối tượng, chính sách. Phòng Kinh tế và Hạ tầng (hoặc Quản lý đô thị) giám sát về mặt kỹ thuật, chất lượng xây dựng. Phòng Tài chính - Kế hoạch đảm bảo việc cấp phát, thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ đúng quy định. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đóng vai trò giám sát, vận động cộng đồng hỗ trợ thêm ngày công, vật liệu, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng những ngôi nhà tình nghĩa vững chãi.

IV. Phương pháp quản lý kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà ở

Quản lý tài chính là một trong những khâu quan trọng nhất, đảm bảo nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và không gây thất thoát. Các quy định về mức hỗ trợ, phương thức cấp phát và thanh quyết toán được thực hiện theo đúng hướng dẫn của Trung ương và tỉnh, có sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Đông Giang. Việc quản lý chặt chẽ kinh phí góp phần củng cố niềm tin của người dân và đảm bảo tính bền vững của chính sách.

4.1. Mức hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở theo quy định

Theo quy định chung tại Quyết định 22/2013/QĐ-TTg, mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương là 40 triệu đồng/hộ đối với trường hợp xây mới nhà ở và 20 triệu đồng/hộ đối với trường hợp sửa chữa nhà ở. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện thực tế, tỉnh Quảng Nam có thể ban hành các nghị quyết để điều chỉnh, bổ sung mức hỗ trợ từ ngân sách địa phương. Ví dụ, Nghị quyết số 11/2019/NQ-HĐND và Nghị quyết 15/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam đã quy định cụ thể mức hỗ trợ tại địa phương. Việc công khai rõ ràng các mức hỗ trợ này giúp người dân nắm bắt và chủ động trong việc lên kế hoạch xây dựng.

4.2. Cơ chế cấp phát và thanh quyết toán nguồn vốn hỗ trợ

Nguồn vốn hỗ trợ được cấp phát theo tiến độ. Các hộ gia đình sau khi được phê duyệt sẽ nhận một phần kinh phí tạm ứng để bắt đầu xây dựng. UBND cấp xã có trách nhiệm theo dõi, giám sát và lập biên bản xác nhận hoàn thành theo từng giai đoạn. Dựa trên biên bản này, các hộ sẽ được nhận phần kinh phí còn lại. Toàn bộ quy trình từ cấp phát đến thanh quyết toán đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục hành chính về tài chính, có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Công tác này nhằm đảm bảo nguồn kinh phí hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, tránh lãng phí và tiêu cực, đồng thời là cơ sở để báo cáo lên các cơ quan quản lý cấp trên.

V. Đánh giá hiệu quả hỗ trợ nhà ở cho người có công

Việc đánh giá kết quả thực tiễn là hoạt động cần thiết để nhìn nhận những thành tựu đã đạt được, đồng thời xác định những tồn tại cần khắc phục. Tại huyện Đông Giang, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công đã mang lại những thay đổi tích cực, cải thiện rõ rệt điều kiện sống cho hàng trăm gia đình chính sách. Các số liệu thống kê qua từng giai đoạn là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của nhân dân.

5.1. Kết quả triển khai giai đoạn 2013 2018 tại Đông Giang

Trong giai đoạn từ 2013 đến 2018, huyện Đông Giang đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Theo tài liệu, toàn huyện đã hoàn thành hỗ trợ cho 790 nhà, trong đó có 461 nhà xây mới và 329 nhà sửa chữa. Tổng kinh phí hỗ trợ được giải ngân là 26,271 tỷ đồng, chủ yếu từ nguồn ngân sách Trung ương, tỉnh và một phần từ ngân sách huyện. Kết quả này đã trực tiếp góp phần xóa nhà tạm, nhà dột nát, giúp hàng trăm hộ gia đình có công ổn định cuộc sống, đón Tết trong những ngôi nhà mới khang trang, ấm áp. Đây là thành quả của sự chỉ đạo sát sao và nỗ lực không ngừng của chính quyền địa phương.

5.2. Kế hoạch và mục tiêu hỗ trợ nhà ở giai đoạn 2019 2022

Tiếp nối thành công của giai đoạn trước, tỉnh Quảng Namhuyện Đông Giang tiếp tục đặt ra các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2019 - 2022. Theo Nghị quyết của HĐND tỉnh, huyện Đông Giang có nhu cầu hỗ trợ cho 217 trường hợp, bao gồm 199 nhà xây mới và 18 nhà sửa chữa, với tổng kinh phí dự kiến hơn 8,3 tỷ đồng. Kế hoạch này cho thấy quyết tâm của địa phương trong việc giải quyết dứt điểm các trường hợp còn lại, đảm bảo mọi gia đình chính sách đều được cải thiện nhà ở. Việc triển khai giai đoạn này tiếp tục dựa trên kinh nghiệm đã có, đồng thời điều chỉnh để khắc phục những bất cập, nâng cao hơn nữa hiệu quả của chính sách.

VI. Top giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ nhà ở tương lai

Để chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công tiếp tục phát huy hiệu quả và mang tính bền vững, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cải tiến là vô cùng cần thiết. Dựa trên phân tích thực trạng và những khó khăn đã chỉ ra, cần có những điều chỉnh đồng bộ từ khâu hoàn thiện chính sách, huy động nguồn lực đến tăng cường giám sát, đảm bảo chương trình ngày càng đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của các gia đình chính sách tại huyện Đông Giang.

6.1. Kiến nghị hoàn thiện hệ thống và cơ chế chính sách

Cần tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định trong các Nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn để phù hợp hơn với thực tiễn tại các địa phương miền núi như Đông Giang. Cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong khâu xác minh, lập hồ sơ nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ, tránh bỏ sót đối tượng. Nên xem xét nâng mức hỗ trợ tài chính để tương xứng với biến động giá cả vật liệu xây dựng. Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế lồng ghép chương trình này với các chương trình mục tiêu quốc gia khác như giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra tác động kép.

6.2. Tăng cường công tác giám sát và huy động nguồn lực

Nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và cộng đồng dân cư là giải pháp quan trọng để đảm bảo tính công khai, minh bạch. Cần thường xuyên tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra đột xuất để kịp thời chấn chỉnh sai phạm (nếu có). Đồng thời, UBND huyện Đông Giang cần xây dựng kế hoạch vận động, xã hội hóa bài bản hơn, có cơ chế vinh danh, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực. Việc đa dạng hóa nguồn lực không chỉ giảm áp lực cho nguồn vốn ngân sách mà còn thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người có công với cách mạng.

29/09/2025
Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng trên địa bàn huyện đông giang tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Người có công và người có công với cách mạng 1. Người có công Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách của Đảng và Nhà nước ta, của dân tộc Việt Nam. Đây là sự ghi nhận, tri ân đối với những cống hiến của người có công với đất nước, thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với người có công.

Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc, đã thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với cách mạng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt kết nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, giáo dục cho thế hệ trẻ Việt Nam truyền thống tốt đẹp của dân tộc, để thế hệ trẻ hiểu và sống có trách nhiệm, có ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước. Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, tuổi tác đã tự nguyện cống hiến sức lực tài năng, trí tuệ hoặc hy sinh cả đời mình cho sự nghiệp của dân tộc, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1, 2, Điều 3, Pháp lệnh số: 02/2020/UBTVQH14, ngày 09/12/2020 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng: Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như 12 thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng. Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sĩ.

Theo đó, có thể hiểu, Người có công được quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có, là những người có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và được các cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Người có công với cách mạng Ưu đãi người có công có thể hiểu là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao to lớn đối với những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đó là trách nhiệm của Nhà nước thông qua việc xây dựng những hệ thống chính sách cụ thể, phát huy truyền thống tốt đẹp, tổ chức các phong trào, đóng góp công sức đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng. Mục tiêu của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là nêu cao những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, định hướng thể chế chính trị của Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương trên cả nước.

Ưu đãi người có công với cách mạng mang tính chất truyền thống của dân tộc, quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội gắn với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân tại các địa phương. Trình độ phát triển kinh tế- xã hội là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội. Chỉ có trên cơ sở thực hiện có hiệu quả chính sách kinh tế, mới có thể nâng cao năng suất lao động, nâng cao cơ sở vật chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện công bằng xã hội. Ngược lại, chính sách xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện các mục tiêu kinh tế tác động tới năng suất, chất 13 lượng, hiệu quả lao động, góp phần ổn định xã hội.

Qua đó thể hiện chính sách ưu đãi xã hội, góp phần ổn định và phát triển xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và vững chắc. Khoản 1, khoản 3, Điều 59 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”, “Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”. Chính vì vậy, các cấp, các ngành cần quan tâm nhiều đối với người có công với cách mạng, nhất là chính sách hỗ trợ nhà ở cho họ, đáp ứng được mục tiêu xây dựng đất nước, chăm lo đời sống cho người có công ở các địa phương. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình cho bình yên của dân tộc, hòa bình của đất nước, các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm ghi công anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Vì vậy, thực hiện chính sách đối với người có công thể hiện ngay trong bản chất và chức năng quản lý của nhà nước. Nhà nước ta vừa là tổ chức chính trị đặc biệt, đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động và cũng là đại diện cho dân tộc. Thực hiện chính sách người có công là kết hợp lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, đảm bảo cho đất nước, cho dân tộc ngày càng vững mạnh và phát triển đi lên. Việc xác định người có công với cách mạng, giúp đỡ cách mạng đã được Nhà nước xác định thông qua hình thức như tặng kỷ niệm chương hay bằng có công với Nhà nước đối với cá nhân, được hưởng các chính sách thương binh, bệnh binh.

Như vậy, người có công với cách mạng là những người được Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý, ghi nhận thành tích có công với cách mạng và họ được hưởng chính sách theo quy định. Chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCC với cách mạng 14 Chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công (NCC) là một việc làm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với gia đình NCC với cách mạng, thể hiện đạo lý “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc. Chính sách hỗ trợ về nhà ở cho NCC với cách mạng theo Nghị quyết 494/NQ-UBTVQH13 và Quy định 22/2013/QÐ-TTg là một chính sách xã hội quan trọng được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân đồng thuận, hoan nghênh và tích cực hưởng ứng, tổ chức thực hiện. Các địa phương đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để triển khai nhanh chóng, kịp thời với sự tham gia của các cấp, các ngành có liên quan.

Về cơ bản, hầu hết các địa phương đã hoàn thành kế hoạch hỗ trợ qua các giai đoạn, đời sống của NCC với cách mạng sau khi được hưởng chính sách, hỗ trợ theo chủ trương của cấp trên, chính quyền địa phương các cấp đã được nâng cao hơn trước, nhà ở khang trang, bền chắc, có diện tích sử dụng tối thiểu theo quy định, đảm bảo vệ sinh môi trường, chắc chắn, kín đáo, tránh được tác động xấu của thời tiết. Rà soát lại, rà soát kỹ, đúng đối tượng yêu cầu cần phải hỗ trợ. Xây dựng, hoàn chỉnh đề án hỗ trợ nhà ở NCC cụ thể tại các địa phương đặc biệt là việc tổ chức thực hiện và huy động các nguồn lực tại địa phương. Lồng ghép chương trình nhà ở NCC với các chương trình nhà ở khác, bố trí kế hoạch phù hợp đảm bảo hiệu quả nhất.

Đảm bảo công khai, minh bạch, chống tiêu cực trong thực hiện chính sách. Các địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động xã hội, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, vận động các tổ chức và cá nhân ủng hộ, đẩy mạnh xã hội hóa việc tham gia xây dựng, sửa chữa nhà ở đối với những gia đình NCC có khó khăn về nhà ở, từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân. [35] Từ những phân tích trên, có thể hiểu, chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCC với cách mạng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trên cơ sở rà soát các đối tượng, các tiêu chuẩn được hưởng và nhu cầu cấp thiết về nhà ở của NCC với cách mạng, các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn triển 15 khai thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCC với cách mạng đảm bảo đúng đối tượng, công khai, minh bạch, nâng cao đời sống của người dân nói chung và NCC với cách mạng nói riêng ở các địa phương. Chính sách công và chính sách đối với người có công với cách mạng 1.

Chính sách công Từ điển Bách khoa Việt Nam khái niệm: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Theo quan niệm của PGS. Nguyễn Hữu Hải khái niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” Theo quan niệm của PGS. Lê Chi Mai khái niệm: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định thể hiện trên văn bản và những hành động, hành vi thực tiễn ở các địa phương.

Từ những phân tích trên, PGS. Hồ Việt Hạnh có một số quan niệm chính sách công như chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước; các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước; một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công.; chính sách công phải được xem như một quá trình xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ