phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn đƣợc trình bày gồm 03 chƣơng chính: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình. Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên. Chƣơng 3: Ứng dụng và giải pháp công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ƢƠN 1: MỘT S VẤN Ề LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ GIA ÌN NGHÈO SỬ DỤNG V N VAY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ÌN 1.
Hộ gia đình nghèo và vốn vay trong phát triển kinh tế đối với hộ nghèo 1. Khái niệm về nghèo và hộ nghèo * Quan niệm về nghèo của một số cơ quan, tổ chức quốc tế Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không đƣợc đi học, không đƣợc đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy đƣợc xã hội thừa nhận." Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998): để tồn tại, con ngƣời cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dƣới mức tối thiểu này, con ngƣời sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quan niệm nghèo của Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: - Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. - Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tƣớng Chính phủ và đƣợc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.
- Ngƣời nghèo: là ngƣời thuộc hộ nghèo. - Lao động nghèo: là ngƣời trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động thuộc hộ nghèo. * Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam Tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo đƣợc xác định trong giai đoạn 2016-2020 đƣợc căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ “về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020”: (1) Các tiêu chí về thu nhập - Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. - Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.
(2) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản - Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin; 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của ngƣời lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. (3) Hộ nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.
* Kinh tế hộ gia đình: Tại Việt Nam, lực lƣợng sản xuất quan trọng nhất ở nông thôn là kinh tế hộ gia đình. Lực lƣợng sản xuất này chủ yếu phát triển dựa vào nông nghiệp, có mô hình sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ. Do nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những chủ trƣơng, chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ nông dân đã thực sự đƣợc trao quyền tự chủ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển.
Nghị quyết Trung ƣơng 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trƣơng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trƣớc mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Trong Chƣơng trình giảm nghèo, hộ gia đình đƣợc hiểu là những ngƣời cùng ăn, cùng ở, cùng chung quỹ chi tiêu. Do đó, đây là một đơn vị sản xuất phổ biến, có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Trong hoạt động kinh tế, hộ gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất.
Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình. Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn khi Chƣơng trình Giảm nghèo đang là mục tiêu phát triển kinh tế trọng tâm của nƣớc ta. Với những cách tiếp cận đối tƣợng theo hộ gia đình và chính sách hỗ trợ trên tinh thần “nhà nƣớc và nhân dân cùng làm”, Chƣơng trình đã và đang tỏ ra hiệu quả trong việc hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình, xoá bỏ tƣ tƣởng trông chờ, ỷ lại vào các chính sách cho không nhƣ thời gian trƣớc đây. Khái niệm vốn vay và tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo 1.
Vốn và vốn vay Vốn là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế đối với mỗi quốc gia. Việt Nam là nƣớc đang phát triển có nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Vì vậy nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn là tiền đề thúc đẩy khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tƣ phát triển nền kinh tế - xã hội 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói chung và kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng. Hiện nay, vốn đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau: Vốn là một khối lƣợng tiền tệ nào đó đƣợc ném vào lƣu thông nhằm mục đích kiếm lời.
Số tiền đó đƣợc sử dụng muôn hình, muôn vẻ, nhƣng suy cho cùng là để mua sắm tƣ liệu sản xuất và trả công cho ngƣời lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn số tiền ban đầu (Trần Thị Thu Thủy, 2010). Các nhà kinh tế thuộc nhiều trƣờng phái kinh tế trƣớc C.Mác nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tƣ bản và đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất các nƣớc đang phát triển và kém phát triển. Phạm trù vốn trong phát triển kinh tế đƣợc các nhà kinh tế học nghiên cứu và tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau. Trên cơ sở đó, vốn vay là vốn huy động đƣợc từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng lƣợng vốn của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất.
Ngƣời vay vốn là ngƣời có nhu cầu bổ sung vật chất và tài sản vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Họ mua quyền sử dụng vốn bằng cách trả cho chủ sở hữu vốn một khoản dƣới dạng lãi suất cho vay, lãi suất cho vay tùy thuộc vào nhu cầu lƣợng vốn vay và lãi suất huy động vốn. Vốn vay tín dụng ưu đãi với hộ nghèo: Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và triển khai nhiều chƣơng trình ƣu đãi dành cho ngƣời dân tộc thiểu số và ngƣời nghèo các khu vực để phát triển kinh tế. Đây là giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, tín dụng nhất là các quỹ tiết kiệm và tín dụng nhỏ phù hợp với thói quen, phong tục tập quán.