đặt vấn đề tự nhận thức của con ngƣời lên một vị trí cao. Đó là con ngƣời có thể và cần phải tự hiểu biết, tự nhận thức, ý thức về bản thân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo quan điểm này thì bản chất của nhận thức chính là việc các nhân tự nhận thức về mình, về thế giới khách quan. Chính trong quá trình hoạt động của cá nhân giúp họ tự tích lũy kinh nghiệm, hiểu biết cho bản thân mình và đây chính là bản chất xã hội và lịch sử của nhận thức.
Qua mỗi hoạt động thực tiễn lại giúp con ngƣời tích lũy thêm kinh nghiệm và nâng cao hiểu biết, nhận thức của bản thân và tác động ngƣợc lại vào thế giới khách quan để có thêm những nhận thức, tri thức mới cho riêng mình. Ở hƣớng nghiên cứu về động lực nhận thức của con ngƣời trong mối quan hệ thực với môi trƣờng, với cơ thể và bộ não theo quan điểm của J. Piaget thì chính sự cân bằng, thống nhất và điều hòa giữa ba yếu tố: thành thục cơ thể, kinh nghiệm với môi trƣờng vật lý và ảnh hƣởng của môi trƣờng xã hội chính là động lực quyết định nhận thức của cá nhân đó. Theo quan điểm này đồng nghĩa là khi đánh giá nhận thức của một cá nhân nào đó là đúng đắn, đáng tin cậy hay không thì phải xem xét dựa trên những yếu tố nhƣ cá nhân đó phải là ngƣời trƣởng thành, có đƣợc những kinh nghiệm sống từ thực tiễn thông qua mức độ họ tham gia hoạt động, tác động và giao lƣu với ngƣời khác, với thế giới khách quan (4).Neisser cũng cho rằng, nhận thức tham gia vào tất cả các hoạt động của con ngƣời tất và cả các hiện tƣợng, biểu hiện tâm lý đều có liên quan đến nhận thức (39).
Đối với hƣớng nghiên cứu mức độ nhận thức, thì trong nghiên cứu của một số nhà tâm lý học ở Mỹ cũng cho thấy, họ nhìn nhận nhận thức dƣới hai khía cạnh. Một là những gì mà cá nhân ngƣời đó quan sát đƣợc bằng mắt thông qua việc mã hóa của hệ thần kinh và truyền tới các giác quan khác, cho cá nhân một hình ảnh, biểu tƣợng về sự vật, hiện tƣợng cụ thể nào đó. Hai là cá nhân đó sử dụng chính việc hiểu biết của mình để nhớ lại, phân loại thông tin thành các biểu tƣợng, các quy tắc, các khái niệm và lý giải, vận dụng chúng vào trong thực tiễn. Nói cách khác nhận thức ở đây bao gồm hai giai đoạn cảm tính và lý tính.
Còn các nhà tâm lý học Mác- xít lại dựa trên nền tảng lý luận nhận thức của tƣ tƣởng triết học Mac-Lenin, coi nhận thức là quá 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não ngƣời và đi từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng. Ở giai đoạn trực quan sinh động (quá trình nhận thức cảm tính) thì nhận thức của con ngƣời chỉ dừng lại ở cảm giác, tri giác và biểu tƣợng. Đây cũng chính là quá trình đem lại nguồn gốc duy nhất cho việc nhận thức về thế giới xung quanh. Tuy nhiên, nhận thức trong giai đoạn này mới chỉ ở mức độ cho biết cái bề ngoài về sự vật, hiện tƣợng.
Đến giai đoạn tƣ duy trừu tƣợng (nhận thức lý tính) mới cho chúng ta gọi tên, phán đoán, suy luận… về đối tƣợng, đi sâu vào cái bản chất, thuộc tính bên trong cũng nhƣ tìm ra mối liên hệ, quy luật của đối tƣợng ấy (6). Hƣớng nghiên cứu về nhận thức trong chăm sóc ban đầu cũng đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Hidalgo và cộng sự (2001) khi tổng quan các nghiên cứu khác nhau về RLLA xã hội đã cho biết, RLLA xã hội cũng nhƣ nhiều rối loạn khác, thƣờng không đƣợc nhận biết trong các cơ sở chăm sóc ban đầu. Thậm chí ngay cả khi các bệnh nhân có RLLA đƣợc chẩn đoán thì ngƣời cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu có thể đánh giá không đúng về mức độ trầm trọng của bệnh và tác động của nó đến cuộc sống của bệnh nhân.
Vì vậy họ không đƣa ra đƣợc những kế hoạch chữa trị kịp thời, khiến cho bệnh nhân bị suy giảm sức khỏe (31). Nhƣ vậy, có rất nhiều các hƣớng nghiên cứu về nhận thức đƣợc đƣa ra nhƣng nhìn chung đều cho rằng nhận thức là quá trình mà con ngƣời đƣợc biết, lĩnh hội hiểu biết về thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn và biến chúng thành kinh nghiệm, nhận thức của mình rồi vận dụng sự hiểu biết đó ngƣợc trở lại vào thế giới khách quan. Mức độ hiểu biết, nhận thức của mỗi ngƣời sẽ phụ thuộc vào chính việc họ tham gia cũng nhƣ vận dụng kiến thức đó vào trong hoạt động, giao tiếp hàng ngày của bản thân. Các nghiên cứu nhận thức về sức khỏe tâm thần tại Việt Nam Ở Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu nhận thức về sức khỏe tâm thần đều là của các tác giả trẻ.
Các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá về mức độ hiểu biết, kinh nghiệm, quan điểm của một nhóm ngƣời vào một khía 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cạnh sức khỏe tâm thần cụ thể. Các hƣớng nghiên cứu hƣớng đến nhận thức của các nhóm khách thể khác nhau nhƣ: cha mẹ, giáo viên, phụ nữ bị bạo hành và về các khía cạnh SKTT trẻ em nhƣ: rối loạn hành vi, chiến lƣợc quản lý hành vi, tự kỷ. Trong hƣớng nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về tổn thƣơng sức khỏe tâm thần: Ở đề tài “Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ về tổn thương sức khỏe tâm thần trẻ em” của tác giả Trần Thành Nam cho thấy, hầu hết cha mẹ mới chỉ dừng lại ở việc chăm lo, cung cấp cho trẻ có đƣợc đời sống vật chất tốt nhất theo khả năng của mình, ngoài ra, việc lo lắng, quan tâm, giáo dục về các nguy cơ sức khỏe tâm thần tiềm ẩn ở trẻ chƣa thực sự đƣợc chú trọng (15). Hƣớng nghiên cứu nhận thức về rối loạn hành vi của tác giả Trần Văn Hô “Nhận thức của giáo viên về rối loạn hành vi ở học sinh tiểu học tại một số trường trên địa bàn Huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” (2002), cũng cung cấp một số vấn đề lý luận nhận thức của giáo viên về rối nhiễu hành vi ở học sinh tiểu học.
Kết quả cho thấy, hầu hết giáo viên tiểu học có nhận thức đúng về rối loạn hành vi ở trẻ em, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số giáo viên chƣa nhận thức đúng về vấn đề này. Nghiên cứu cũng đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của giáo viên và đƣa ra một số các giải pháp, cách thức tác động phù hợp (12). Hƣớng nghiên cứu nhận thức về chiến lƣợc quản lý hành vi trong “Nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý trong một số trường tiểu học ở Hà Nội” (2012), tác giả Nguyễn Linh Trang cho thấy, hầu hết các giáo viên đều biết về thuật ngữ “tăng động, giảm chú ý”. Tuy nhiên hiểu biết chung về bệnh còn hạn chế và có mức độ không đồng đều nhau ở các nhóm giáo viên nhƣ: nhiều hoặc ít kinh nghiệm giảng dậy; nhóm giáo viên đã từng làm việc với trẻ tăng động hoặc không, hoặc ở nhóm giáo viên có các chiến lƣợc khen thƣởng khác nhau.
Từ đó tác giả cũng đƣa ra những đề xuất và khuyến nghị cho từng nhóm cụ thể (24). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hƣớng nghiên cứu nhận thức về nạn bạo lực gia đình: Kết quả từ “Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam” (2010), của nhóm nghiên cứu đa quốc gia của WHO về sức khỏe phụ nữ và bạo lực gia đình đối với phụ nữ cho thấy: phụ nữ từng kết hôn có tỉ lệ bị bạo hành khá cao, họ cũng thƣờng xuyên sống trong bất an, lo sợ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chƣa chỉ ra đƣợc họ nhận thức nhƣ thế nào về những nguy cơ có thể mắc các rối loạn tâm thần khi sống trong bạo hành và điều này có ảnh hƣởng đến cuộc sống của họ hay không (8). Hƣớng nghiên cứu nhận thức về tự kỷ: Theo tác giả Trịnh Thanh Hƣơng (2014), trong nghiên cứu “Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng, đa phần sinh viên các ngành đã có những hiểu biết nhất định về tự kỷ.
Tuy vậy, vẫn có một bộ phận sinh viên hiểu sai, hiểu hạn chế về bệnh này và sự hiểu biết của sinh viên các ngành cũng có sự khác biệt rõ rệt (12). Qua một số các hƣớng nghiên cứu trên đây, có thể thấy, tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu về nhận thức của các nhóm cha mẹ, giáo viên, sinh viên… về một vấn đề sức khỏe tâm thần nào đó nhƣng các kết quả đƣa ra cũng cho thấy mức độ hiểu biết, nhận thức còn khá hạn chế, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và cũng chƣa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề nhận thức của gia đình bệnh nhân mắc RLLA. Vì vậy việc nghiên cứu nhận thức của gia đình trong hỗ trợ ban đầu cho bệnh nhân RLLA để từ đó thấy đƣợc thực trạng, những yếu tố liên quan và giải pháp hỗ trợ cho bệnh nhân là việc làm cần thiết. Các nghiên cứu về RLLA 1.
Các nghiên cứu về RLLA trên thế giới RLLA đƣợc biết đến rất sớm. Ngay từ thời cổ đại, sự lo lắng và những biểu hiện của nó đã đƣợc xuất hiện rất nhiều trong thơ ca, các tƣ tƣởng triết học, y học và thần học. Đến thời Hy Lạp cổ đại thì lo lắng đƣợc tin rằng đó là kết quả của sự mất cân bằng trong cuộc sống của con ngƣời (32). Các hƣớng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu chính về RLLA bao gồm: khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân, các phƣơng pháp, kỹ thuật trị liệu … Các hướng nghiên cứu về khái niệm RLLA Đầu thế kỷ 18, một sự thay đổi xảy ra trong quá trình nhận thức của các triệu chứng lo âu hƣớng tới một mô hình y tế, trong đó tính năng của sự lo lắng đã đƣợc giải thích nhƣ là triệu chứng của bệnh.
Bác sỹ tâm lý ngƣời Scotlen- William Battie (1703-1776) đã cung cấp một trong những mô tả sớm nhất của sự lo lắng trong y văn, phân biệt sự điên rồ khỏi những lo âu ít nghiêm trọng và cho đó là kết quả của sự kích thích quá mức của các dây thần kinh (32).