PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dịch vụ xã hội cơ bản được xác định là một trong bốn thành tố chính của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam hiện nay, bên cạnh các trụ cột về Chính sách việc làm, đảm bảo thu nhập tối thiểu; Bảo hiểm xã hội và Trợ giúp xã hội. Dịch vụ xã hội cơ bản có vai trò quan trọng và quyết định sự thành công của các chính sách An sinh xã hội. Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản được coi là những hoạt động đầu tiên và ở tầng thấp nhất trong hệ thống An sinh xã hội.
Đối với người dân, việc đánh giá chất lượng xã hội chính là thông qua mức độ sử dụng các dịch vụ xã hội. Nền kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu đối với dịch vụ xã hội ngày càng cao và đòi hỏi Nhà nước cần phải chú trọng nhiều hơn nhằm tạo ra sự công bằng, ổn định và phát triển xã hội một cách bền vững. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đã đề ra mục tiêu “bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số”. Đây thường là những nhóm dân cư yếu thế, ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội.
Do đó, cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội trong việc đảm bảo an sinh cho những nhóm dân cư này nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Cư dân vạn đò tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế được coi là một trong những nhóm đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương. Dân cư vạn đò hình thành đã khá lâu, song đến thời vua Tự Đức, mới tập hợp lại thành cộng đồng, sinh sống qua nhiều đời trong các “ngôi nhà” - là những con thuyền, tối ngày lênh đênh trên sông, sinh kế chủ yếu từ việc đánh bắt thủy sản và lao động đơn giản, đại bộ phận là dân nghèo, cuộc sống hết sức khó khăn. Từ những năm 1970, chính quyền thành phố đã có những đợt vận động cư dân vạn đò lên bờ định cư và lập nghiệp, tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, các hộ cư 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân này lại quay trở về cư trú dọc các con sông hay chỗ ở cũ.
Suốt một thời gian dài, việc định cư cho dân vạn đò rơi vào vòng luẩn quẩn: lên bờ - xuống đò – lên bờ. Theo số liệu điều tra của thành phố Huế đã thực hiện trong tháng 8 năm 2006, tổng số dân vạn đò là 1069 hộ với 6168 nhân khẩu sống rải rác khắp các phường, xã thuộc thành phố Huế trên dọc các sông: sông Hương, sông Đông Ba, sông An Hòa…Trước thực trạng này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã lập dự án: “Định cư và cải thiện cuộc sống dân vạn đò thành phố Huế” thực hiện từ năm 2008 đến năm 2010. Các báo cáo kết quả dự án đã cho thấy công tác di dân và định cư cho cư dân vạn đò đã thực hiện khá thành công. Với dự án này, cuộc sống của 1069 hộ dân vạn đò đã không còn cảnh lênh đênh, tạm bợ trên các con đò, phao, nhà chồ1.
Hiện tại cư dân vạn đò của thành phố Huế đã được đưa lên định cư tập trung tại các khu tái định cư đã quy hoạch trong dự án như khu Hương Sơ, khu Kim Long, khu Phú Mậu, khu Phường Đúc… Sau quá trình thực hiện dự án định cư dân vạn đò, cuộc sống của nhóm dân cư này đã có nhiều thay đổi đáng kể như có chỗ ở ổn định và tốt hơn so với cuộc sống lênh đênh sông nước, con em của nhiều hộ gia đình đã được đến trường…Tuy nhiên, về cơ bản cư dân vạn đò của sông Hương đều thuộc diện nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Kết quả điều tra ở các khu tái định cư dân vạn đò cho thấy người dân khi chuyển đến nơi ở mới đã bộc lộ nhiều bất cập, có quá nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Một số nghiên cứu liên quan của các tác giả Lê Thị Nguyện (2008), Nguyễn Mạnh Hà (2009), Nguyễn Xuân Hồng (2012) đã mô tả khá cụ thể về đời sống kinh tế - xã hội 1 Mỗi chiếc đò dài trung bình 12 mét, chiều ngang rộng chừng 2,5 mét, được đóng bằng các vật liệu chính là tre, gỗ, hoặc nhôm/ tôn/ sắt. Phần đầu khoang đò là nơi đặt bàn thờ và các vật có giá trị nhất của gia đình; phần giữa khoang đò là nơi ăn ngủ và tiếp khách; phần sau khoang đò đặt bếp nấu ăn và là nơi sinh hoạt của phụ nữ, trẻ con.
Nhà chồ là đặc trưng nhà ở của cư dân vạn đò trên phá Tam Giang, là loại nhà được dựng tạm bợ trên nước bằng các loại vật liệu như tre/bê tông và lợp bằng tranh/mái tôn. Đa phần các con đò, nhà chồ… đều nghèo nàn, bẩn thỉu, rách nát và mất vệ sinh; nhưng đó là một đặc trưng văn hóa vật chất của cư dân vạn đò ở Huế trước đây. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của cư dân vạn đò trong các khu tái định cư và cho thấy mức độ dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận các chính sách xã hội. Bởi nhận thức của họ hạn chế, điều kiện kinh tế nghèo nàn, có khá nhiều rào cản trong việc tham gia và thụ hưởng các chính sách.
Đến nay, việc ổn định đời sống cư dân vạn đò vẫn còn gặp nhiều khó khăn và có không ít hộ muốn quay trở lại với cuộc sống sông nước trước đây. Mặc dù đến nơi ở mới nhưng cuộc sống tại các khu tái định cư từ khi đưa vào hoạt động dường như vẫn không hề thay đổi, cái khó khăn vẫn còn theo đuổi người dân ở đây bởi phần lớn không biết làm gì để sinh sống. Từ trước đến nay, người dân vốn đã quen với cuộc sống sông nước, chỉ biết đánh bắt cá và làm cát, nay chuyển lên bờ có đến 80% hộ gia đình rơi vào cảnh thất nghiệp. Điều đó kéo theo nhiều hệ lụy xã hội như hàng trăm hộ gia đình rơi vào cảnh nghèo đói, trẻ con thất học, phải sớm tham gia lao động để mưu sinh; thanh niên dễ rơi vào các tệ nạn xã hội, người già không được chăm sóc…Mặc dù tái định cư là để ổn định cuộc sống cho người dân nhưng dường như cư dân vạn đò lại phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trước cuộc sống mới, thậm chí nhiều hộ gia đình không thể thích nghi và có ý muốn quay lại với sông nước.
Mặc dù Nhà nước và chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho cuộc “di dân lịch sử” của cư dân vạn đò trên sông Hương nhưng dường như không đạt được hiệu quả an sinh cho người dân? Thậm chí, các quy định hiện hành liên quan đến tái định cư đều chỉ dừng lại ở thời điểm hoàn thành khu tái định cư để các hộ dân có thể vào sinh sống. Pháp luật nước ta thiếu những quy định cần thiết để bảo đảm rằng, người dân có thể sống, sinh hoạt và ổn định lâu dài tại các khu tái định cư đó. Xây dựng các quy định cụ thể về hậu tái định cư là một yêu cầu bức thiết hiện nay, đặc biệt trong tình trạng nhiều hộ gia đình “tái nghèo vì tái định cư”, điều này đã làm đảo lộn thành quả giảm nghèo của địa phương cũng như khó đảm bảo được an sinh xã hội. Vì thế, để cư dân vạn đò “an cư” tại nơi ở mới, cần thiết 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải thỏa mãn được nhu cầu thiết yếu của họ, do đó, việc tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản là điều quan trọng để người dân yên tâm định cư lâu dài tại một nơi ở hoàn toàn khác cuộc sống trước đây của họ.
Với mong muốn hỗ trợ cư dân vạn đò có thể tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản trong hệ thống an sinh xã hội của Nhà nước, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Hoạt động hỗ trợ cư dân vạn đò tiếp cận một số dịch vụ xã hội cơ bản (Nghiên cứu trường hợp tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế)” làm luận văn thạc sỹ. Qua nghiên cứu này, tôi sẽ phân tích thực trạng tiếp cận an sinh xã hội của cư dân vạn đò sau khi tái định cư, về việc sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản như nhà ở, nước sạch, y tế, giáo dục và thông tin, với mong muốn chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện và thụ hưởng chính sách. Đồng thời, đánh giá những yếu tố tác động tới việc tiếp cận chính sách của cư dân vạn đò nhằm làm rõ các rào cản khiến người dân khó sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản. Trên cơ sở đó, tôi sẽ nhận định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ cư dân vạn đò tại thành phố Huế tiếp cận tốt hơn dịch vụ xã hội cơ bản, nhằm đảm bảo cuộc sống an sinh tại nơi ở mới.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà quản lý nghiên cứu và cộng đồng xã hội. Đề cập đến lĩnh vực này, trước hết phải kể đến Mai Ngọc Cường, người đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam. Trong số các công trình đó, đáng chú ý nhất là hai cuốn sách: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2009) và “Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2013). Trong hai cuốn sách này, tác giả đề cập đến việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, phân tích thực trạng phát triển an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế.
Trên cơ sở phân tích bối 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.