Một số tín hiệu thẩm mĩ về phái nam trong ca dao người Việt - Đặng Thị Thúy Nga

Tài liệu phân tích các tín hiệu thẩm mĩ về phái nam trong ca dao người Việt. Khám phá hình tượng, vai trò người đàn ông xưa trong gia đình và xã hội.

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ và tầm quan trọng trong ca dao Việt

Tín hiệu thẩm mĩ là những dấu hiệu biểu đạt giá trị thẩm mĩ trong tác phẩm văn học, đóng vai trò quan trọng trong việc khắc họa hình tượng nhân vật. Trong ca dao người Việt, tín hiệu thẩm mĩ giúp thể hiện hình tượng phái nam một cách sinh động, sâu sắc qua ngôn ngữ dân gian giản dị nhưng đầy sức mạnh cảm xúc. Ca dao là loại hình văn học dân gian truyền miệng phản ánh đời sống, tình cảm và giá trị xã hội của người dân Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Những tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao không chỉ làm đẹp lên tác phẩm mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò, bản chất và giá trị của con người phái nam trong xã hội Việt xưa.

1.1. Định nghĩa tín hiệu thẩm mĩ

Tín hiệu thẩm mĩ là những biểu tượng, hình ảnh, từ ngữ mang tính biểu cảm trong văn bản nghệ thuật. Chúng thể hiện qua hằng thể từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và các phương thức ẩn dụ, hoán dụ. Tín hiệu này có chức năng biểu hiện cảm xúc, tư tưởng và tác động đến tâm lý người tiếp nhận. Trong ca dao Việt, tín hiệu thẩm mĩ về phái nam giúp xây dựng nên những hình ảnh người chồng, người cha, người con trai đa chiều, phản ánh chân thực cuộc sống.

1.2. Chức năng tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao

Chức năng biểu hiện: Tín hiệu thẩm mĩ giúp diễn tả tình cảm, sự trân trọng hoặc phê bình về hình tượng phái nam. Chức năng tác động: Chúng tác động vào cảm xúc người đọc, tạo ra sự đồng cảm, kích thích sự suy ngẫm về giá trị xã hội. Trong ca dao người Việt, những từ ngữ xưng gọi phái nam như "anh", "ông", "chồng" mang nhiều tín hiệu thẩm mĩ biểu thị vị thế, trách nhiệm và vai trò xã hội của nam giới.

II. Tín hiệu thẩm mĩ từ vựng trong xưng gọi phái nam

Trong ca dao người Việt, việc xưng gọi phái nam phản ánh một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ phức tạp, chia thành hai loại: xưng gọi hiển ngôn (trực tiếp) và hàm ngôn (gián tiếp). Từ ghép xưng gọi như "anh trai", "ông chồng", "người yêu" không chỉ là các danh từ mà còn chứa đựng những giá trị văn hoá sâu sắc. Tín hiệu từ vựng này thể hiện mối quan hệ xã hội, địa vị gia đình và những kỳ vọng của xã hội đối với nam giới. Thông qua phân tích hằng thể từ vựnghằng thể kết hợp, ta có thể nhận diện được những cách thức mà người dân Việt cách xưa đánh giá, nhận thức về hình tượng phái nam, từ đó hiểu sâu hơn về nền tảng văn hoá Nho giáo.

2.1. Từ đơn và từ ghép xưng gọi phái nam hiển ngôn

Từ đơn như "anh", "ông", "chồng" là những xưng gọi cơ bản nhất. Từ ghép như "anh trai", "ông xã", "người chồng" bổ sung thêm ý nghĩa và tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ mới. Các xưng gọi này không trung lập mà mang tính chất đánh giá, biểu lộ thái độ. "Anh" mang ý trân trọng, "ông" mang sự trang trọng, "chồng" nhấn mạnh vai trò gia đình. Hằng thể từ vựng này giúp khắc họa hình tượng phái nam đa diện.

2.2. Xưng gọi phái nam hàm ngôn và ý nghĩa biểu trưng

Xưng gọi hàm ngôn sử dụng những hình ảnh, ẩn dụ để chỉ nam giới mà không trực tiếp gọi tên. Ví dụ: "người" (biểu chỉ người chồng), "thiên hạ" (chỉ nam giới tầm thường). Những tín hiệu thẩm mĩ hàm ngôn này thường mang tính biểu trưng sâu sắc, phản ánh thái độ tiềm ẩn của người nói. Chúng tạo nên một lớp ý nghĩa thứ hai, giúp ta hiểu rõ hơn về cách người dân Việt cách xưa nhìn nhận vai trò nam giới trong gia đình phụ quyền.

III. Cấu trúc ngữ pháp và biểu hiện hình tượng phái nam

Cấu trúc ngữ pháp trong ca dao đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình tượng phái nam. Các cấu trúc chủ vị biểu thị hành động, trạng thái và quan hệ của nam giới với nữ giới, gia đình và xã hội. Động từ thể hiện những sự khác biệt như "còn", "có", "chưa", "mất" biểu trưng cho sự chênh lệch thân phận giữa nam và nữ. Tín hiệu thẩm mĩ qua cấu trúc ngữ pháp giúp làm nổi bật những mâu thuẫn, đối lập trong xã hội phụ quyền. Các cụm động từ như "đi gặp", "gắn bó", "nhớ nhung" không chỉ mô tả hành động mà còn phản ánh cảm xúc, khát khao của con người, đặc biệt là mong muốn về tình yêu và hạnh phúc gia đình.

3.1. Động từ biểu thị vị thế xã hội của nam giới

Động từ như "có", "còn", "được" trong ca dao thường kèm theo bổ ngữ chỉ địa vị, trách nhiệm. Tín hiệu thẩm mĩ ở đây là sự lặp đi lặp lại những cấu trúc chủ vị nhấn mạnh quyền lực nam giới. Những cụm từ "anh còn đi", "chồng có công" tôn vinh vai trò người nam trong gia đình. Nhưng đối lập với đó là những tín hiệu biểu thị sự mất mát, thiếu thốn khi nam giới vắng mặt, nhấn mạnh tầm quan trọng của họ.

3.2. Cấu trúc chủ vị biểu thị tình cảm và giao tiếp xã hội

Cấu trúc chủ vị thể hiện tình cảm của nam giới dành cho nữ giới như "anh yêu em", "chồng nhớ vợ". Những tín hiệu thẩm mĩ này biểu hiện sự chân thành, trách nhiệm. Động từ giao tiếp như "đi gặp", "sum họp", "xa cách" không chỉ miêu tả hành động mà còn bộc lộ các cảm xúc sâu kín. Việc phân tích cấu trúc ngữ pháp giúp ta thấy rõ hơn về cách ca dao người Việt khắc họa tâm lý và hành động của phái nam.

IV. Ý nghĩa biểu trưng và giá trị văn hoá Nho giáo

Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao về phái nam không chỉ dừng ở mặt ngôn ngữ mà còn mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, phản ánh giá trị văn hoá Nho giáo của xã hội Việt xưa. Hình tượng người chồng biểu trưng cho sự chủ động, trách nhiệm chính trong gia đình. Người cha được tôn vinh như trụ cột vật chất và tinh thần. Hình tượng con trai mang ý nghĩa kế tục dòng họ, tiếp nối sự nghiệp gia tộc. Gia đình phụ quyền được xây dựng trên nền tảng này, với nam giới chiếm vị thế chủ yếu. Những tín hiệu thẩm mĩ này phản ánh một hệ thống tư tưởng sâu sắc, trong đó văn hoá Nho giáo đã định hình những chuẩn mực sống, giá trị và vai trò của mỗi thành viên trong gia đình và xã hội.

4.1. Biểu trưng về con trai đàn ông trong gia đình Việt

Con trai biểu trưng cho sự kế tục, tương lai của gia tộc, vì thế được ưu tiên và yêu thương đặc biệt. Tín hiệu thẩm mĩ quanh hình tượng này nhấn mạnh sự kỳ vọng, trách nhiệm to lớn. Người chồng là biểu trưng của sự bảo vệ, cung cấp tài chính và quyết định gia đình. Người cha là biểu trưng tối cao của quyền lực, tình yêu và dạy dỗ. Những tín hiệu này được lặp đi lặp lại trong ca dao, tạo nên một hình tượng phái nam nhất quán, phục vụ nhu cầu xã hội phụ quyền.

4.2. Ảnh hưởng của gia đình phụ quyền và Nho giáo

Gia đình phụ quyền đặt nam giới ở vị trí trung tâm, điều khiển tài sản và quyết định quan trọng. Văn hoá Nho giáo với những giá trị như "hiếu", "trung", "nhân", "nghĩa" đã tạo nên tín hiệu thẩm mĩ sâu sắc về nam giới. Tín hiệu này thể hiện qua những từ ngữ tôn vinh, những hành động được ca tụng, những vai trò được mong đợi. Ca dao là công cụ để duy trì và truyền bá những giá trị này qua các thế hệ, làm nên nền tảng văn hoá Việt độc đáo.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ 1. Khái niệm tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ 1. Khái niệm tín hiệu Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi nhắc đến khái niệm tín hiệu, tùy theo cách hiểu rộng hẹp khác nhau của tác giả mà có nhiều định nghĩa khác nhau.

Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa của P. Guiraud: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [4, tr. Định nghĩa của P. Guiraud được xem là rộng là bởi vì nó bao gồm cả những tín hiệu hiểu theo nghĩa hẹp, cả những tín hiệu “nhận biết” và những tín hiệu “giao tiếp” có bản năng của loài vật.

Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra hình ảnh đều được coi là tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp. Trong hệ thống đèn giao thông, màu đỏ báo hiệu dừng, màu vàng chuẩn bị, màu xanh được phép đi. Trong tự nhiên, một đám mây đen báo hiệu trời sắp mưa, một đêm nhiều sao báo hiệu hôm sau trời sẽ nắng to… Các nhà lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang “tin” (thông tin). Các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa.

Còn định nghĩa của A. Schaff được hiểu theo nghĩa hẹp: “Một sự vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được các nhân vật sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức thế giới bên ngoài hay những cảm thụ về nội tâm” [4. Vì ông chỉ thừa nhận tín hiệu có chức năng giao tiếp được sử dụng trong hệ thống với tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng tình cảm giữa con người. Nếu như tín hiệu không có chức năng 12 giao tiếp thì không được xem là tín hiệu.

Ví dụ như vũ điệu của loài ong không đủ điều kiện để trở thành tín hiệu, nó chỉ là tín hiệu “giao tiếp” không ý thức. de Saussure cho rằng tín hiệu là cái phải có cả cái hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Sự tương quan giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt là cốt lõi của kí hiệu (tín hiệu) [10, tr. Bùi Minh Toán trong Ngôn ngữ với văn chương đã đưa ra cách hiểu về tín hiệu: “Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng và tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội được một nội dung ý nghĩa cần thiết về nhận thức, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc hay hành động” [31, tr.

Dựa trên các ý kiến này, Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách sáng tỏ, cụ thể về những điều kiện cơ bản để một “kích thích” (hình thức vật chất tác động) được coi là một tín hiệu, qua đó chỉ ra hướng xác định tín hiệu bởi các điều kiện sau: - Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện), tức là tín hiệu phải cho phép con người cảm nhận được bằng giác quan. - Phải có một nội dung nghĩa (cái được biểu hiện), “một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (ý nghĩa)”. - Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin). - Phải nằm trong hệ thống tín hiệu nhất định.

Như vậy, hiểu khái niệm tín hiệu theo nghĩa rộng hay hẹp thì tín hiệu vẫn là một khái niệm quan hệ, không phải là một khái niệm vật tự thân. Có nghĩa là một sự vật (hay thuộc tính của vật chất hoặc hiện tượng) muốn trở thành tín hiệu phải nằm trong quan hệ với những sự vật khác [5, tr. Qua các ý kiến trên, ta thấy tín hiệu đơn giản là những vật mà ta có thể tri giác được, đơn giản từ đèn giao thông, tiếng trống trường, tiếng chuông báo thức, một cái vẫy tay, … tất cả đều được hiểu là tín hiệu. Tất nhiên các tín hiệu 13 này đều bao gồm hai mặt, mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện, hai mặt này có mối quan hệ qua lại, biện chứng với nhau.

Riêng tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu âm thanh, có tính đa trị do nó đa nghĩa và mỗi tín hiệu kết hợp với nhau tạo những cấu trúc khác nhau, từ đó mang những nghĩa khác nhau. Mặt khác, tín hiệu ngôn ngữ không chỉ có nghĩa tự thân mà nghĩa trong cấu trúc, nghĩa ngữ dụng. Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện tín hiệu trong đề tài. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ Xuất phát từ nghiên cứu về tín hiệu, về tín hiệu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ áp dụng nó vào việc nghiên cứu văn học từ góc độ kí hiệu học mà ở đây là nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ.

Lã Nguyên trong Phê bình kí hiệu học từng có ý kiến: “Văn học chính là kí hiệu học và kí hiệu học là con đường duy nhất giúp tiếp cận hữu hiệu các hiện tượng văn hóa, bao gồm cả văn học nghệ thuật” [21, tr. Nhắc đến “thẩm mĩ” là nhắc đến cái đẹp, tức nghiên cứu thuộc về phương diện “cái đẹp” của văn học: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã có sự giải thích rõ hơn về tín hiệu thẩm mĩ ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện sơ cấp của văn học. Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp - tín hiệu thẩm mĩ.

Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức - cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ” [4, tr. Tiếp thu những tinh hoa từ lý thuyết của F. de Saussure, Trần Văn Sáng trong Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ - sóng đôi trong ca dao dưới ánh sáng của lý thuyết kí hiệu học cho rằng: “Trong ngôn ngữ văn chương, hệ thống tín hiệu thẩm mĩ tồn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và quy luật của tín hiệu ngôn ngữ. Do vậy, tín hiệu thẩm mĩ được xác định là tín hiệu nhân tạo; tín hiệu thính giác; tín hiệu sơ cấp, chưa chuyển mã; tín hiệu giao tiếp có chức năng 14 thẩm mĩ, chức năng bộc lộ, biểu cảm, chức năng hệ thống; và là tín hiệu - biểu trưng nghệ thuật” [29, tr.

Tác giả Lê Đức Luận trong Tín hiệu thẩm mĩ về tình yêu trong ca dao người Việt lại làm rõ bản chất của tín hiệu thẩm mĩ xét trong mối quan hệ với tín hiệu ngôn ngữ: “Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ (cái biểu đạt) và ý nghĩa biểu trưng (cái được biểu đạt). Nếu cho rằng trong tín hiệu ngôn ngữ, giữa âm và nghĩa là võ đoán thì quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ là có lí do… Con đường xây dựng một tín hiệu ngôn ngữ thành một tín hiệu thẩm mĩ là phương thức tu từ các đơn vị từ vựng” [19, tr. Trương Thị Nhàn khi bàn đến khái niệm tín hiệu thẩm mĩ cũng chỉ rõ rằng: “Có thể hiểu, tín hiệu thẩm mĩ là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết của sự vật, hiện tượng trong đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích nghệ thuật. Trong tác phẩm văn học, tín hiệu thẩm mĩ có thể tương ứng với những chi tiết nghệ thuật, những khách thể mang giá trị thẩm mĩ (những sự vật hiện tượng tự nhiên, con người, đồ vật, những tác phẩm thuộc các thể loại.

mang nội dung xã hội - lịch sử… Trong hệ thống phân loại tín hiệu học, tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu - biểu trưng (symbol). Trong mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên - chất liệu của văn học, tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu chưa chuyển mã, tín hiệu nguyên cấp (primaire)” [23, tr. Trên cơ sở kế thừa nhiều công trình của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như F. de Saussure với chủ nghĩa cấu trúc, P.

Guiraud với sự sáng tạo lại ngôn ngữ tự nhiên trong tác phẩm văn học và Hjelmslev với nghĩa liên hội, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm tín hiệu thẩm mĩ: Tín hiệu thẩm mĩ hay tín hiệu ngôn ngữ văn chương được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai theo cơ chế sau: 15 Cái biểu đạt: ngữ âm Tín hiệu ngôn ngữ Cái được biểu đạt: ý nghĩa Cái biểu đạt Ngữ âm Tín hiệu thẩm mĩ tín hiệu ngôn ngữ Ý nghĩa Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mĩ Như vậy, tín hiệu thẩm mĩ cũng bắt nguồn từ tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ nhưng khi vào thế giới nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ lại là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện hình tượng nghệ thuật, nói cách khác bản thân nó đã mang tính thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp. Cũng giống như tín hiệu ngôn ngữ nói chung, tín hiệu thẩm mĩ có hai mặt là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Tín hiệu thẩm mĩ có thể bao gồm hai cấp độ: tín hiệu thẩm mĩ đơn và tín hiệu thẩm mĩ phức. Các tín hiệu thẩm mĩ đơn tương ứng với các từ, các ngữ trong ngôn ngữ tự nhiên.

Các tín hiệu thẩm mĩ phức là kết quả của sự tổ hợp nhiều tín hiệu thẩm mĩ đơn. Các tín hiệu thẩm mĩ phức có thể bao trùm cả tác phẩm, có thể tương đương với các hình tượng nghệ thuật. “Khi cả hệ thống tín hiệu trong văn bản biểu đạt một thông tin thứ cấp thì bản thân nó, văn bản đó, là tín hiệu thẩm mĩ” [20, tr. Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ bắt nguồn từ những sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, mỗi sự vật như vậy được gọi bằng một tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên.

Nhiều trường hợp, tín hiệu thẩm mĩ còn bắt nguồn từ một sự việc, một hiện tượng trong hiện thực khách quan. Với kinh nghiệm của mình, nhà văn đã quan sát, chiêm nghiệm từ đó xây dựng thành tín hiệu thẩm mĩ. Ngoài ra, tín hiệu thẩm mĩ còn bắt nguồn từ thế giới nội tâm, đó là những cảm xúc, những tình cảm của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ