Tổng quan luận án

Xã hội hóa hoạt động công chứng tại Việt Nam được định hướng như một nhiệm vụ chiến lược trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ trương này đã được khẳng định rõ nét tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2006 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng 2020. Sự ra đời của Luật Công chứng năm 2006 (Luật số 82/2006/QH11) và sau đó là Luật Công chứng năm 2014 (Luật số 53/2014/QH13) đã chuyển dịch căn bản mô hình công chứng từ cơ chế bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do thông qua sự xuất hiện của Văn phòng công chứng (VPCC).

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Công chứng năm 2014 đã bộc lộ những rào cản pháp lý và bất cập lớn liên quan đến quy định về hình thức pháp lý của VPCC:

  • Luật Công chứng năm 2014 chỉ cho phép VPCC được tổ chức và hoạt động dưới duy nhất loại hình công ty hợp danh thuần túy. Đây là loại hình công ty đối nhân đóng và kém bền vững, được xây dựng trên quan hệ nhân thân và niềm tin giữa các thành viên hợp danh. Khi một công chứng viên (CCV) hợp danh chết, bị miễn nhiệm hoặc chấm dứt tư cách hành nghề, VPCC dễ rơi vào tình trạng buộc phải giải thể, làm đứt gãy tính liên tục của dịch vụ công.
  • CCV hành nghề với tư cách "Thẩm phán phòng ngừa", chịu trách nhiệm cá nhân độc lập đối với văn bản công chứng (VBCC) do mình xác lập. Chất lượng VBCC phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và đạo đức của cá nhân CCV chứ không phụ thuộc vào mô hình tổ chức VPCC. Việc bắt buộc áp dụng loại hình công ty hợp danh làm phát sinh quy chế trách nhiệm liên đới vô hạn vô lý giữa các CCV đối với sai sót nghiệp vụ của nhau.
  • Luật không thừa nhận sự tham gia của thành viên góp vốn tại VPCC, trong khi nhu cầu vốn đầu tư cơ sở vật chất, địa điểm hoạt động trên thực tế là rất lớn (có thể lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ đồng), dẫn đến hiện tượng đầu tư ngầm, tranh chấp tài sản phức tạp không được pháp luật bảo vệ.
  • Chưa có sự phân định rành mạch giữa chức năng hành nghề công chứng của cá nhân CCV với chức năng hỗ trợ hành nghề của tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC).

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Cho đến thời điểm đề tài được thực hiện, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận hoạt động công chứng dưới góc độ nội dung hành vi, quản lý nhà nước hoặc xã hội hóa nói chung; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về hình thức pháp lý của VPCC dưới góc độ là một loại hình doanh nghiệp đặc thù trong nền kinh tế thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu: Góp phần hoàn thiện quy định về hình thức pháp lý của VPCC, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm chỉ ra những vấn đề luận án có thể kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
  2. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của hoạt động công chứng, mối quan hệ giữa hoạt động công chứng với hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do;
  3. Ở mức độ nhất định, nghiên cứu pháp luật một số nước theo mô hình công chứng hành nghề tự do trên thế giới để chỉ ra những giá trị tham khảo về hình thức pháp lý của VPCC đối với Việt Nam;
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hình thức pháp lý của VPCC để chỉ ra những hạn chế, bất cập;
  5. Đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định về hình thức pháp lý của VPCC đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu chung: Ở Việt Nam, hình thức pháp lý của VPCC đã phù hợp với yêu cầu của thực tiễn chưa? Những hạn chế, bất cập là gì? Yếu tố nào chi phối hình thức pháp lý của VPCC? Hình thức pháp lý nào phù hợp có thể áp dụng đối với VPCC? Các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam là gì?
  • Giả thuyết nghiên cứu chung: Ở Việt Nam chưa có sự phân định giữa chức năng hành nghề thuộc về CCV và chức năng hỗ trợ hành nghề thuộc về VPCC. Đây là nguyên nhân tồn tại những vướng mắc, không nhất quán, bất cập khi xây dựng pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC. Do đó, cần đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế này.
  • Các câu hỏi và giả thuyết cụ thể: Được phân định thành ba nhóm: (1) Nhóm lý luận (khái niệm VPCC, hình thức pháp lý VPCC, mối quan hệ giữa chức năng và hình thức pháp lý, điều kiện thiết lập); (2) Nhóm thực trạng (tính bền vững của loại hình công ty hợp danh, rào cản xã hội hóa, bất cập trong bồi thường thiệt hại, chuyển nhượng, tổ chức lại, chấm dứt hoạt động); (3) Nhóm giải pháp (sự cần thiết và các giải pháp lập pháp cụ thể).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề cơ bản về hoạt động công chứng; hình thức pháp lý của VPCC; thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam; kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới về hình thức tổ chức VPCC.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định cơ bản về hoạt động công chứng và sự ảnh hưởng của các quy định này tới hình thức pháp lý của VPCC; nghiên cứu hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do ở một số nước và tại Việt Nam hiện nay. Luận án không đi sâu nghiên cứu cơ chế tổ chức của Phòng công chứng (PCC) với tư cách đơn vị sự nghiệp công lập mà chỉ xem xét PCC trong mối liên hệ so sánh với VPCC dưới danh nghĩa TCHNCC.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân loại chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm nghiên cứu nền tảng về thể chế và hoạt động công chứng: Đề tài khoa học mã số 92-98-224 của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1993); Luận án tiến sĩ của Đặng Văn Khanh (2000) về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC; Luận án tiến sĩ của Dương Khánh (2002) về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; Sách chuyên khảo của Tuấn Đạo Thanh (2012) về lý luận và thực tiễn pháp luật công chứng; Luận án tiến sĩ của Tuấn Đạo Thanh (2008) so sánh pháp luật công chứng quốc tế.
  • Nhóm nghiên cứu về xã hội hóa hoạt động công chứng và bổ trợ tư pháp: Đề tài của Nguyễn Văn Toàn (2005) về mô hình công chứng Latinh; Luận án tiến sĩ của Trần Thu Hường (2017) về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp; Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Quang Hồng (2000), Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Quang Minh (2009); các bài viết của Nguyễn Hoàng Anh (2006), Nguyễn Văn Tuân (2004), Trần Thất (2004), Lê Quốc Hùng (2009), Diễm Hằng (2014).
  • Nhóm nghiên cứu về tổ chức hành nghề công chứng dưới góc độ doanh nghiệp: Luận văn thạc sĩ của Hoàng Mạnh Thắng nghiên cứu điều chỉnh pháp lý hoạt động công chứng tại VPCC dưới góc độ pháp luật doanh nghiệp; Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Hồng Thắm (2013) về thành lập và hoạt động của TCHNCC tại Hà Nội; Bài viết của Hà Thị Lan Anh (2014) về quy chế thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của VPCC.
  • Nhóm nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp và các loại hình công ty: Luận án tiến sĩ của Ngô Huy Cương (2004) về hợp đồng thành lập công ty; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Huệ (2012) về pháp luật công ty hợp danh; Luận án tiến sĩ của Trần Ngọc Liêm (2002) về các loại hình công ty; Luận án tiến sĩ của Hoàng Anh Tuấn (2012) về chuyển đổi hình thức công ty; các bài viết của Phan Thị Thanh Thủy (2015), Nguyễn Vinh Hưng (2016).

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Cộng hòa Pháp: Chuyên khảo Notariat của J. Pillebout (1984) trình bày toàn diện lý luận công chứng Latinh, quy chế CCV, quy chế tổ chức, thành lập và chuyển giao VPCC; Công trình của T. về cơ sở Hiến pháp của hoạt động công chứng.
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Công trình của Chu Hải Xuân (2002) so sánh chế độ công chứng Trung Quốc và phương Tây; Công trình của Lưu An Cát (2001) và Đoàn Vĩ (2006) về tính chất cơ cấu công chứng và xã hội hóa hành nghề công chứng trong kinh tế thị trường.
  • Liên bang Nga: Các bài báo khoa học của A. Tal-Pis (2003), M. Kis-li-sin (2003), G. về mô hình công chứng Latinh, công chứng ngoài ngân sách và cơ chế tự chủ tài chính, trách nhiệm vật chất của CCV.
  • Các tài liệu giới thiệu luật nước ngoài: Khảo cứu của Lê Kim Thanh (1993), Vũ Quý Vĩ (1993), Nguyễn Văn Thảo (1992 - Anh, Singapore), Lê Tuyết Nga (1995 - Đức).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình trước đây chỉ nhận diện VPCC hoặc phân tích cơ cấu tổ chức ở mức độ mô tả, chưa giải quyết căn bản mối quan hệ giữa bản chất hành vi công chứng với hình thức pháp lý của VPCC, chưa phân định chức năng hành nghề và chức năng hỗ trợ hành nghề, và chưa lý giải khoa học về việc mở rộng các hình thức doanh nghiệp khác ngoài công ty hợp danh. Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam giải quyết trực diện vấn đề này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin với các nguyên lý duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Khung lý thuyết về dịch vụ công và vai trò bảo đảm an toàn pháp lý của Nhà nước.
  • Lý thuyết về bản chất bổ trợ tư pháp của công chứng, vị trí độc lập của CCV với tư cách "Thẩm phán phòng ngừa".
  • Khung phân tích phân định chức năng: Chức năng hành nghề (thuộc thẩm quyền cá nhân CCV) và Chức năng hỗ trợ hành nghề (thuộc tổ chức doanh nghiệp VPCC).
  • Lý luận về các loại hình doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm tài sản (vô hạn, hữu hạn), và quan hệ nhân thân trong công ty đối nhân/đối vốn.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành theo từng chương:

Chương Phương pháp nghiên cứu chủ yếu Mục đích áp dụng cụ thể
Chương 1 Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa tài liệu Làm rõ các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; xác định khoảng trống nghiên cứu và xây dựng hệ thống câu hỏi, giả thuyết.
Chương 2 Phân tích, lịch sử, hệ thống hóa, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh luật học Làm rõ các khái niệm công chứng, CCV, hình thức pháp lý VPCC; phân tích 4 đặc điểm hoạt động công chứng; đối chiếu các mô hình công chứng Latinh, Anglo-Saxon, XHCN.
Chương 3 Thống kê, tổng hợp, phân tích, mô tả Phân tích thực trạng quy định Luật Công chứng 2014; mô hình hóa các tranh chấp thực tiễn liên quan đến công ty hợp danh, chuyển nhượng, giải thể, bồi thường thiệt hại.
Chương 4 Quy nạp, tổng hợp, phân tích, so sánh Đề xuất hệ thống 4 định hướng và 9 giải pháp lập pháp nhằm sửa đổi, hoàn thiện Luật Công chứng và pháp luật doanh nghiệp liên quan.

Nguồn dữ liệu, tư liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ: Thông tư 574/QLTPK (1987), Nghị định 45/HĐBT (1991), Nghị định 31/CP (1996), Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014, Luật Doanh nghiệp.
  • Văn bản pháp luật quốc tế: Pháp lệnh số 45-2500 năm 1945 (Pháp), Luật về tổ chức công chứng hành nghề tự do năm 1991 (Ba Lan), Luật Công chứng năm 2005 (Trung Quốc), Quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 (Anh), Luật Công chứng nhà nước năm 1973 (Liên Xô), pháp luật Đức, Singapore, Hoa Kỳ.
  • Dữ liệu thực tiễn quản lý, các số liệu thống kê TCHNCC năm 2012, các vụ việc tranh chấp giữa thành viên góp vốn và CCV hợp danh được phản ánh trên các tạp chí chuyên ngành và thực tiễn thi hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện bức tranh nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế. Tác giả chỉ ra rằng lịch sử công chứng Việt Nam phát triển muộn; giai đoạn bao cấp chủ yếu thực hiện qua cơ quan hành chính dưới hình thức thị thực, chứng thực. Từ năm 1991 khi cơ quan công chứng chuyên trách ra đời theo Nghị định 45/HĐBT, các nghiên cứu bắt đầu xuất hiện nhưng tập trung chủ yếu vào công chứng nhà nước. Giai đoạn từ sau Luật Công chứng 2006 và 2014, các nghiên cứu tập trung vào chủ trương xã hội hóa nhưng lại thiếu vắng công trình phân tích chuyên sâu về mô hình doanh nghiệp áp dụng cho VPCC.

Từ tổng quan nghiên cứu quốc tế (đặc biệt là Pháp, Trung Quốc, Nga, Ba Lan), luận án rút ra bài học: các quốc gia chuyển đổi sang kinh tế thị trường đều đối mặt với bài toán xã hội hóa và phải xây dựng mô hình TCHNCC tự do phù hợp. Chương này xác lập khung câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu xoay quanh sự cần thiết phải phân định chức năng hành nghề với chức năng hỗ trợ hành nghề và đa dạng hóa hình thức pháp lý của VPCC.

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm và phạm trù lý luận cơ bản:

  • Khái niệm công chứng: Phân tích thuật ngữ Notarius và so sánh khái niệm công chứng tại Pháp, Ba Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Liên Xô. Tác giả phân tích bất cập của khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 và đề xuất định nghĩa mới: "Công chứng là việc công chứng viên, người có thẩm quyền chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn bản hoặc chứng nhận chữ ký theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng theo trình tự luật định." Định nghĩa này bao quát thẩm quyền của viên chức lãnh sự/ngoại giao (Điều 78 Luật Công chứng 2014), xác định đúng đối tượng là "nội dung hợp đồng, giao dịch", và điều chỉnh lại việc chứng nhận bản dịch thực chất là chứng nhận chữ ký người dịch.
  • Bốn đặc điểm cơ bản của hoạt động công chứng:
    1. Hoạt động công chứng mang tính chất dịch vụ công, đòi hỏi tính liên tục, không bị gián đoạn và cần hành lang pháp lý linh hoạt để thiết lập mạng lưới rộng khắp;
    2. Chất lượng VBCC phụ thuộc vào cá nhân CCV ("Thẩm phán phòng ngừa"), không phụ thuộc vào hình thức pháp lý của VPCC;
    3. Công chứng là nghề rủi ro cao, thiệt hại phát sinh thường rất lớn do đối tượng giao dịch có giá trị cao, nghĩa vụ bồi thường là nghĩa vụ "tiềm tàng", đòi hỏi phải có thiết chế bảo hiểm nghề nghiệp và quỹ bảo đảm ngành thay vì trút trách nhiệm vô hạn lên tổ chức doanh nghiệp;
    4. VBCC có giá trị chứng cứ bảo đảm quyền lợi của người sử dụng dịch vụ, mang tính chất bổ trợ tư pháp và có giá trị sử dụng lâu dài.
  • Mối quan hệ giữa chức năng và hình thức pháp lý: Luận giải sự phân định giữa chức năng hành nghề công chứng (chỉ gắn liền với cá nhân CCV) và chức năng hỗ trợ hành nghề (cung cấp cơ sở vật chất, quản trị, kế toán do VPCC đảm nhiệm), từ đó mở đường cho việc áp dụng các hình thức doanh nghiệp khác nhau cho VPCC.

Chương 3. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN

Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng từ năm 2014:

  • Quy định VPCC chỉ được phép hoạt động theo loại hình công ty hợp danh (Mục 3.2.1): Tạo ra sự cứng nhắc, hạn chế quyền tự do kinh doanh; gây nguy cơ đứt gãy hoạt động khi có biến động thành viên hợp danh; cản trở việc phát triển VPCC tại các vùng sâu, vùng xa nơi khó tập hợp đủ hai CCV hợp danh; tạo rủi ro liên đới tài sản bất hợp lý giữa các CCV độc lập.
  • Cơ chế bồi thường thiệt hại (Mục 3.2.2): Phân tích sự bất cập của Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 khi quy định VPCC phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng, sau đó CCV gây lỗi mới hoàn trả cho VPCC. Cơ chế này không xử lý triệt để trách nhiệm cá nhân của CCV, trói buộc trách nhiệm bồi thường vào doanh nghiệp, làm cho các hình thức công ty đối vốn khó có thể áp dụng nếu không đổi mới cơ chế này.
  • Thực tiễn chuyển nhượng, tổ chức lại, chấm dứt hoạt động (Mục 3.2.3, 3.2.4): Pháp luật hiện hành thiếu các quy phạm xử lý việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đối với VPCC, vướng mắc trong chuyển nhượng VPCC khi không có sự đồng thuận của tất cả thành viên hợp danh, rủi ro pháp lý đối với hồ sơ lưu trữ khi VPCC giải thể.
  • Vấn đề thành viên góp vốn và tên gọi VPCC (Mục 3.2.5): Thực tế ghi nhận nhiều vụ tranh chấp căng thẳng giữa "nhà đầu tư ngầm" (thành viên góp vốn không được thừa nhận) và CCV hợp danh đứng tên thành lập VPCC. Về tên gọi, quy định tên VPCC phải chứa họ tên Trưởng văn phòng gây bất cập lớn khi thay đổi Trưởng văn phòng hoặc khi Trưởng văn phòng chuyển nhượng/qua đời.

Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm chỉ đạo và các giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Bốn định hướng hoàn thiện:
    1. Thể chế hóa chủ trương của Đảng về xã hội hóa hoạt động công chứng;
    2. Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, CCV, người sử dụng dịch vụ và nhà đầu tư;
    3. Đảm bảo hệ thống TCHNCC phát triển ổn định, bền vững và có tính kế thừa;
    4. Đảm bảo tính đồng bộ giữa pháp luật công chứng với Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự và các ngành luật khác.
  • Chín nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Phân định rõ chức năng hành nghề của CCV với chức năng hỗ trợ hành nghề của VPCC và chức năng quản lý nhà nước;
    2. Sửa đổi Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 theo hướng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trực tiếp thuộc về CCV có lỗi, kết hợp bắt buộc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và xây dựng Quỹ bảo đảm bồi thường ngành công chứng;
    3. Cho phép VPCC được tổ chức dưới loại hình doanh nghiệp một chủ (Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty TNHH một thành viên do 01 CCV làm chủ);
    4. Hoàn thiện pháp luật cho phép VPCC hoạt động theo loại hình công ty hợp danh hữu hạn (có thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn) và công ty TNHH hai thành viên trở lên;
    5. Bổ sung quy định cho phép VPCC được chuyển đổi loại hình doanh nghiệp linh hoạt;
    6. Bổ sung quy chế pháp lý chặt chẽ khi VPCC chấm dứt hoạt động (bảo lưu trách nhiệm, chuyển giao hồ sơ lưu trữ);
    7. Sửa đổi khái niệm công chứng tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014;
    8. Hoàn thiện quy định về điều kiện, trình tự chuyển nhượng VPCC;
    9. Sửa đổi quy định về tên gọi VPCC, không bắt buộc lấy tên Trưởng văn phòng để đảm bảo tính ổn định thương hiệu của tổ chức.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận giải toàn diện bản chất pháp lý của VPCC dưới góc độ là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công đặc thù, tách bạch giữa "chức năng hành nghề" của CCV và "chức năng hỗ trợ hành nghề" của VPCC.
  • Đề xuất định nghĩa khoa học mới về khái niệm công chứng, khắc phục các hạn chế về chủ thể thực hiện và đối tượng chứng nhận của Luật Công chứng năm 2014.
  • Làm sáng tỏ luận điểm: Chất lượng văn bản công chứng do năng lực chuyên môn và đạo đức của cá nhân CCV quyết định, hoàn toàn không phụ thuộc vào hình thức pháp lý của VPCC.
  • Cung cấp cơ sở lý luận cho việc áp dụng đa dạng các hình thức doanh nghiệp (công ty hợp danh hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH) đối với VPCC.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Chỉ rõ những hệ lụy tiêu cực của quy định độc tôn loại hình công ty hợp danh thuần túy tại Luật Công chứng 2014 (làm VPCC dễ giải thể, triệt tiêu tính kế thừa, hạn chế xã hội hóa tại địa bàn khó khăn).
  • Phân tích nguyên nhân xung đột pháp lý từ hiện tượng thành viên góp vốn thực tế nhưng không được luật công nhận, đưa ra giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và CCV.
  • Đề xuất mô hình đổi mới cơ chế bồi thường thiệt hại và thành lập Quỹ bảo đảm ngành công chứng (học hỏi kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp), giải phóng TCHNCC khỏi gánh nặng bồi thường vô hạn.
  • Đóng góp 9 kiến nghị lập pháp cụ thể, trực tiếp phục vụ cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chuyên sâu vào hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do; không đi sâu nghiên cứu toàn diện về cơ chế quản trị tài chính và tổ chức bộ máy của Phòng công chứng với tư cách là đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế chuyển đổi cụ thể từ Phòng công chứng sang Văn phòng công chứng; xây dựng quy chế chi tiết về cơ cấu tài chính, mức trích lập và cơ chế vận hành của Quỹ bảo đảm bồi thường nghề nghiệp công chứng cấp vùng và cấp quốc gia tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Quốc hội, Bộ Tư pháp trong việc sửa đổi toàn diện Luật Công chứng năm 2014, hoàn thiện chính sách xã hội hóa bổ trợ tư pháp và các quy định pháp luật doanh nghiệp liên quan.
  • Đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp và CCV: Giúp Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam và các Hội công chứng viên địa phương xây dựng cơ chế tự quản, thiết lập quỹ bảo đảm ngành và tư vấn quản trị tổ chức hành nghề công chứng an toàn, bền vững.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm công chứng được tác giả luận án đề xuất sửa đổi như thế nào so với quy định hiện hành? Tác giả đề xuất định nghĩa: "Công chứng là việc công chứng viên, người có thẩm quyền chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn bản hoặc chứng nhận chữ ký theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng theo trình tự luật định." Điểm mới là bổ sung chủ thể người có thẩm quyền (viên chức lãnh sự/ngoại giao), tập trung vào "nội dung hợp đồng, giao dịch" và xác định đúng bản chất việc công chứng bản dịch là chứng nhận chữ ký người dịch.

2. Vì sao việc bắt buộc VPCC chỉ hoạt động dưới loại hình công ty hợp danh lại bị coi là rào cản phát triển? Công ty hợp danh thuần túy dựa trên liên kết nhân thân chặt chẽ và chịu trách nhiệm liên đới vô hạn. Khi một CCV hợp danh chết, bị miễn nhiệm hoặc rút vốn mà không tìm được CCV thay thế, VPCC buộc phải giải thể, phá vỡ tính liên tục của dịch vụ công. Ngoài ra, việc quy định tối thiểu 02 CCV hợp danh gây khó khăn lớn cho việc thành lập VPCC tại vùng sâu, vùng xa, cản trở tiến trình xã hội hóa sâu rộng.

3. Cơ chế bồi thường thiệt hại tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 có bất cập gì? Điều 38 quy định VPCC là chủ thể bồi thường thiệt hại cho khách hàng, sau đó CCV có lỗi mới hoàn trả lại cho VPCC. Quy định này biến nghĩa vụ bồi thường thành nghĩa vụ "ẩn" đè nặng lên doanh nghiệp, làm cho các hình thức công ty đối vốn khó áp dụng, đồng thời không phản ánh đúng trách nhiệm chuyên môn độc lập của cá nhân CCV với tư cách là chủ thể của hành vi công chứng.

4. Luận án đề xuất cho phép VPCC được tổ chức dưới những hình thức pháp lý nào? Luận án đề xuất đa dạng hóa hình thức pháp lý của VPCC bao gồm:

  • Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty TNHH một thành viên (mô hình một CCV làm chủ, phù hợp cho vùng sâu, vùng xa);
  • Công ty hợp danh hữu hạn (cho phép có thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn cùng CCV hợp danh);
  • Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

5. Luận án rút ra kinh nghiệm gì từ mô hình bảo đảm nghề nghiệp của Cộng hòa Pháp? Cộng hòa Pháp thiết lập hai cấp bảo đảm ngành là Quỹ bảo đảm cấp vùng và Quỹ bảo đảm cấp quốc gia từ nguồn đóng góp hàng năm của CCV. Khi CCV không thực hiện bồi thường trong hạn 1 tháng, Quỹ sẽ đứng ra chi trả đền bù trực tiếp cho người bị thiệt hại, kết hợp với chế độ trợ quản viên giám sát CCV có nguy cơ nghiệp vụ để phòng ngừa rủi ro.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Mích đã xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng dựa trên nguyên tắc phân định giữa chức năng hành nghề của công chứng viên và chức năng hỗ trợ hành nghề của tổ chức. Công trình đã phân tích sâu sắc các bất cập thực tiễn của quy định độc tôn mô hình công ty hợp danh và cơ chế bồi thường thiệt hại theo Luật Công chứng năm 2014. Hệ thống 4 định hướng và 9 nhóm giải pháp lập pháp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp nền tảng quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế công chứng và thúc đẩy xã hội hóa hoạt động tư pháp tại Việt Nam.