Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu. Những vấn đề lý luận về hoạt động công chứng và hình thức pháp lý của văn phòng công chứng. Thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng quy định về hình thức pháp lý của văn phòng công chứng và các quy định có liên quan Chương 4.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định về hình thức pháp lý của văn phòng công chứng và các quy định có liên quan. 14 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ở Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của chế định công chứng khá muộn so với một số nước trên thế giới. Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế theo phương thức mệnh lệnh, hành chính, các giao dịch dân sự hầu như không phát triển, các giao dịch này được thực hiện chủ yếu dựa trên sự tin cậy, hình thức của giao dịch phần lớn được thực hiện bằng lời nói, viết tay, phần ít do cơ quan hành chính nhà nước chứng thực (thị thực).
Nhu cầu nghiên cứu về công chứng trong giai đoạn này dường như không được chú trọng. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu trong việc quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân; góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội. Chế định công chứng ở nước ta chính thức được triển khai và hoạt động trên toàn quốc từ năm 1991 (theo Nghị định số: 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng về Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước), cơ quan công chứng được xem là cơ quan công quyền thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Có thể nói, từ khi cơ quan công chứng chuyên trách được thành lập, nhu cầu nghiên cứu các vấn đề lý luận về công chứng cũng như đánh giá thực tiễn hoạt động công chứng ở nước ta đã được đặt ra.
15 z Trong số những công trình đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu về công chứng ở nước ta phải kể đến đề tài khoa học mang mã số: 92-98-224, “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp triển khai và hoàn thiện vào năm 1993. Với công trình này, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng; nghiên cứu, đánh giá lịch sử hình thành và phát triển công chứng ở Việt Nam, cũng như thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ quan công chứng theo Nghị định số: 45-HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước. Bên cạnh đó nhóm tác giả đã dành dung lượng khá lớn để đề cập tới các mô hình tổ chức và quản lý công chứng trên thế giới và cho rằng về tổng thế, trên thế giới có hai mô hình tổ chức công chứng: Thứ nhất, mô hình tổ chức công chứng Nhà nước, trong đó tổ chức công chứng là cơ quan Nhà nước, CCV là viên chức và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, phí, thù lao công chứng được nộp vào ngân sách Nhà nước; Thứ hai, mô hình công chứng hành nghề tự do, TCHNCC tự do hoạt động như một doanh nghiệp, CCV tự tổ chức, quản lý, điều hành, tự hạch toán thu, chi. Từ đó, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra rằng mô hình công chứng hành nghề tự do có nhiều ưu điểm, phát huy trách nhiệm cá nhân của CCV, giảm nhẹ sự bao biện về trách nhiệm của Nhà nước, việc tổ chức hệ thống công chứng linh hoạt, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu công chứng của người dân và hoàn toàn phù hợp với một nước có nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền phát triển.
Tuy nhiên, trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội, nhà nước và pháp luật của nước ta tại thời điểm đó, nhóm tác giả cho rằng cần phải tiếp tục duy trì công chứng nhà nước, đồng thời nghiên cứu tiếp thu những kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng Nhà nước góp phần tích cực bảo vệ quyền và lợi 16 z ích hợp pháp của người dân trong cơ chế thị trường đang hình thành và phát triển, góp phần giúp Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam [11]. Có lẽ đây là một trong những công trình đầu tiên ở nước ta thể hiện tư tưởng xã hội hóa hoạt động công chứng thông qua việc xây dựng mô hình công chứng hành nghề tự do ở nước ta trong tương lai. Một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về lĩnh vực công chứng ở nước ta phải kể đến đề tài: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay”, của tác giả Đặng Văn Khanh (Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, năm 2000). Với công trình này, tác giả đã giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như: xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC, đồng thời tác giả đi sâu phân tích đánh giá thực trạng, xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC ở nước ta theo quy định tại Nghị định số: 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật công chứng trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC ở nước ta.
Ngoài ra, cũng tại công trình này, tác giả đã nhận diện các hệ thống công chứng cơ bản trên thế giới đó là (1) Hệ thống công chứng theo hệ thống luật viết (hệ thống công chứng Latinh), (2) Hệ thống công chứng theo luật án lệ (hệ thống công chứng Anglo –Sacxon), (3) Hệ thống công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa (bao gồm Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây). Khi đề cập tới các mô hình tổ chức công chứng dưới giác độ hình thức TCHNCC, tác giả Đặng Văn Khanh cũng cho rằng, trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức công chứng đó là Mô hình công 17 z chứng hành nghề “tự do” và mô hình “công chứng Nhà nước” [60]. Công trình nghiên cứu một cách toàn diện về cơ quan thực hiện chức năng công chứng ở nước ta đó là đề tài: “Tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Khánh (Luận án tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, năm 2002). Đây là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của cơ quan công chứng ở nước ta.
Với công trình này tác giả đã đưa ra nhưng cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước như: khái quát chung về công chứng nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, so sánh với các loại hình công chứng của các nước trên thế giới v.; Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, chỉ rõ sự khác biệt giữa hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiêm nhiệm chức năng công chứng với hoạt động của CCV; trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước [59]. Có thể nói đây là công trình rất hữu ích đối với nghiên cứu sinh khi nghiên cứu về TCHNCC mặc dù có sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu giữa tổ chức công chứng Nhà nước (mô hình công chứng bao cấp) và tổ chức công chứng tư nhân (mô hình công chứng hành nghề tự do) nhưng lại có sự tương đồng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động của CCV với cơ quan công chứng. Công trình được biên soạn dưới hình thức sách chuyên khảo của tác giả Tuấn Đạo Thanh đó là “Pháp luật công chứng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2012) [97]. Đây là công trình khá công phu với trên 600 trang chứa đựng những nội dung tương đối toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật công chứng ở nước ta, trong đó tác giả có đề cập tới TCHNCC.
Tuy nhiên tác giả mới chỉ tiếp cận ở mức độ nhận diện các TCHNCC và tập trung phân tích địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức của PCC, 18 z cơ cấu tổ chức của VPCC mà chưa đi sâu nghiên cứu về hình thức pháp lý của VPCC.