Đặt vấn đề: Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, trong những năm gần đây nguồn ngân sách cân đối chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở, trường học. phục vụ phát triển kinh tế ngày càng tăng lên, nên cần phải hệ thống quản l đầu tư công mới được xây dựng, chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung sang hệ thống phân cấp, quá trình chuyển đổi chậm ảnh hướng đến nhiều dự án quan trọng bị chậm tiến độ và quá trình thực hiện dự án điều chỉnh nhiều lần, làm tăng tổng mức đầu tư so ban đầu được phê duyệt, tuy nhiên khi Luật Đầu tư công được thông qua đã nâng cao năng lực phối hợp trong quản l đầu tư công. Như vậy, đầu tư từ ngân sách nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, góp phần vào tăng trưởng GDP của đất nước và tạo ra tác động lan tỏa, mở rộng các hình thức đầu tư, đặt biệt là thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng để đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra. Thực tế tại Việt Nam, do mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển đổi chậm (đến năm 2015 Luật Đầu tư công có hiệu lực), nên việc quản l đầu tư công kém hiệu quả, nên hàng loạt các dự án đầu tư công có dấu hiệu không hiệu quả khắp các bộ, ngành, địa phương.
Thời báo Tài chính Việt Nam [1] đăng, theo thống kê tại các báo cáo gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 25/8/2017, có 43 dự án của các doanh nghiệp (các tổng công ty, công ty) thuộc các bộ, 21 dự án thuộc các địa phương, 8 dự án thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau c ng khoảng 42.744 tỷ đồng, là các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả theo một số tiêu chí do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất. Cụ thể, số dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là 15 dự án. Số dự án có doanh thu, lợi nhuận thực tế thấp hơn trong báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt là 25 dự án. Số dự án đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư là 29 dự án.
Số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không b đắp được chi phí vận hành, chi phí sản xuất thực tế cao hơn chi phí sản xuất theo tính toán khi thiết kế dự án, thời gian l thực tế kéo dài hơn thời gian l kế hoạch là 20 dự án. Có 8 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả đã được thanh l , hoặc chuyển giao, thay đổi chủ đầu tư. Tính chung, 72 dự án được báo cáo lần này có tổng vốn ban đầu là 33.725 tỷ đồng và tổng mức đầu tư được phê duyệt sau c ng là 42.744 tỷ đồng, tăng 9. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái kinh tế toàn cầu (vào khoảng giai đoạn 2007–2012), các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước gặp khó khăn.
Nền kinh tế thế giới suy thoái, phục hồi chậm và các điều kiện ngân sách khó khăn, nên tình trạng phân bổ ngân sách cho dự án kéo dài gây chậm tiến độ. Điều chỉnh dự án tăng tổng mức đầu tư trong các dự án đầu tư công còn phổ biến, làm ảnh hưởng không tốt tới phân tích lợi ích – chi phí. Tuy nhiên, để phát triển đất nước thì đầu tư công có tầm quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu thiếu hụt cơ sở hạ tầng, tác động tích cực tới tăng trưởng (ở các nước thu nhập thấp và trung bình), tạo ra nguồn vốn công có lợi cho khu vực tư nhân (giảm chi phí sản xuất) và tác động tới quá trình tăng trưởng chung. C ng với cả nước, v ng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có An Giang luôn được các Bộ ngành Trung ương h trợ vốn đầu tư phát triển về hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, hạ tầng nông nghiệp – thủy lợi góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, tỉnh cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về tình hình biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long, xâm nhập mặn, sạt lở, thiên tai, sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của tỉnh. Bên cạnh đó, An Giang còn là tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông Nam giáp TP. Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia. Kinh tế tỉnh An Giang trong những năm qua phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn vừa qua gần 9,42%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh khu vực thương mại - dịch vụ và giảm dần khu vực nông nghiệp, nên An Giang quan điểm 2 và định hướng đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách đầu tư dự án có trọng tâm, trọng điểm.
Ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, y tế, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, tập trung nội lực là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực đầu tư, trong đó tập trung đẩy mạnh thu hút đầu tư, lựa chọn danh mục và lập đề cương dự án kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP,… tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong mối quan hệ tổng thể của tỉnh với v ng kinh tế trọng điểm và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang [2] cho biết tổng vốn đầu tư thực tế huy động vốn 05 năm 2011-2015 như: Bảng 1.1: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 So sánh So sánh KH Tổng KH Kế hoạch theo Kế hoạch vốn theo theo QĐ theo QĐ huy QĐ QĐ1768/ 1768 Số 1636/QĐ- động 1636 Danh mục công trình QĐ- với vốn TT UBND giai với vốn UBND huy 16/9/ đoạn huy 16/8/ động 2011 2011- động 2013 2011- 2011- 2015 2015 2015 (%) (%) 1 2 3 4 5 6=5/3*100 7=5/4*100 TỔNG CỘNG 99.784 40,79 72,62 1 Vốn TW đầu tư trên địa bàn 23.819 7,88 10,37 Nguồn vốn Bổ sung có mục 2 19.033 31,24 65,44 tiêu và TPCP Nguồn vốn ĐTPT (ngân sách 3 18.206 45,44 80,35 địa phương, XSKT) 4 Nguồn vốn ngoài nước (ODA) 7.584 570 7,85 15,90 5 Nguồn vốn tín dụng Nhà nước 7.186 545 7,30 45,95 Nguồn vốn doanh nghiệp đầu 6 24.611 95,19 163,75 tư Qua 05 năm (từ năm 2011-2015), toàn tỉnh có khoảng 979 công trình đầu tư, trong đó gần 892 công trình vốn ngân sách Nhà nước và 87 dự án thu hút doanh nghiệp đầu tư đã hoàn thành đưa vào sử dụng (chỉ tính những dự án đã hoàn thành 3 và đang triển khai, đã thu hút vốn đầu tư 12.177 tỷ đồng/tổng vốn huy động 24.650 tỷ đồng và cao hơn nguồn vốn ngân sách địa phương đầu tư của chương trình (chỉ huy động được 8.206 tỷ đồng), đã phát huy hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bênh cạnh đó do nhận thức các Sở, Ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, chỉ chú trọng vào các công trình sử dụng ngân sách nhà nước, nên nhu cầu vốn đầu tư có nguồn gốc ngân sách Nhà nước vẫn còn khá cao so với khả năng huy động là hạn chế, trong khi chưa chủ động tìm các nhà đầu tư để triển khai các công trình thuộc ngành quản l.
Sự thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ của các cấp quản l địa phương về đầu tư các công trình bằng ngân sách nhà nước và các công trình do tư nhân đầu tư. Công tác quản l đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh chưa xác định được chính xác những loại dự án nào là phải d ng ngân sách đầu tư sẽ hiệu quả, những dự án nào giao khu vực tư nhân đầu tư sẽ hiệu quả. Do đó, việc đối sánh hiệu quả đầu tư các dự án do nhà nước đầu tư, so với khu vực tư nhân đầu tư là cấp thiết, nhằm để kiến nghị cấp lãnh đạo chính quyền địa phương trong lựa chọn dự án để đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và những dự án cần phải kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư là điều cần thiết trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới. Hiện ở Việt Nam, tác giả Tô Trung Thành [3] đã nghiên cứu phân tích đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM và tác giả Nguyễn Bảo Ngọc [4] đã nghiên cứu về các vấn đề về đo lường thành công của dự án xây dựng và đề xuất sử dụng KPIs; nghiên cứu dựng lại là chỉ phân tích đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân hoặc đưa ra các công thức tính toán, chưa nghiên cứu đối sánh hiệu quả đầu tư các dự án do nhà nước đầu tư so với khu vực tư nhân đầu tư.
Tính cấp thiết của đề tài: Về mặt khoa học: Đề tài muốn khảo sát và tìm hiểu về nhận thức của các cấp quản l địa phương, đưa ra những nhận định và phân tích để có những đối sánh lựa chọn, quyết định lựa chọn loại hình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hay tư nhân đầu tư một cách chính xác có cơ sở khoa học, nhằm sử dụng nguồn lực từ 4 ngân sách của địa phương một cách trọng tâm trọng điểm hiệu quả nhất, phát huy hiệu quả đầu tư. Về mặt thực tiễn: nghiên cứu giúp chính quyền địa phương, các cấp quản lý địa phương, lựa chọn được loại hình đầu tư hợp lý nhất cho những dự án thuộc cấp mình quản lý nhằm phát huy hiệu quả dự án góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, cũng như thực hiện hoàn thành các mục tiêu kế hoạch 05 năm cấp chính quyền địa phương. Từ đó, đưa ra các tiêu chí, phương pháp lựa chọn những dự án nào ngân sách nhà nước đầu tư sẽ hiệu quả, những dự án nào thì khu vực tư nhân đầu tư sẽ hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chính của đề tài là đối sánh hiệu quả dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và dự án do tư nhân đầu tư (nhà đầu tư) trên địa bàn tỉnh An Giang.