phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển – chi nhánh Hà Giang Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển – chi nhánh Hà Giang 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Về đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng nói chung và của ngân hàng BIDV – chi nhánh Hà Giang nói riêng đã có một số nghiên cứu sau: Tác giả Nguyễn Mạnh Thái (2007) trên cơ sở đánh giá thực trạng huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Vietcombank đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng trong khoảng thời gian 2003-2006, từ đó đưa ra kiến nghị với chính ngân hàng và với Nhà nước. Phan Thị Âu Châu (2008) đã phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn tại ngân hàng Agribank – huyện Lấp Vò, Đồng Tháp.
Trong nghiên cứu này đã phân tích hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Agribank trong 3 năm 2005-2007. Qua đó, tác giả đã đánh giá tình hình nợ quá hạn của các hộ sản xuất nông nghiệp gia tăng mặc dù doanh số thu nợ tăng lên. Sau khi phân tích được thực trạng đó, tác giả đưa ra những kiến nghị cho chính quyền địa phương và cho chính ngân hàng Agribank huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Luận văn của tác giả Bùi Quang Hưng (2008) đã đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Seabank, trong đó tác giả đã chỉ ra một số tồn tại trong công tác sử dụng vốn của ngân hàng như tập trung cho vay các tầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế, còn hạn chế cho vay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho ngân hàng Seabank như nâng cao trình độ cán bộ tín dụng, tăng cường kiểm tra, giám sát các khoản vay, thực hiện dự trữ và thanh khoản theo chiến lược kết hợp, áp dụng công nghệ hiện đại. Tác giả Đàm Hồng Phương (2009) nghiên cứu về những vấn đề cơ bản về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó đã đánh 4 giá hiệu quả sử dụng vốn của 8 ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội. Tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả tài chính đo lường bằng khả năng sinh lời và kết quả kinh doanh của 8 ngân hàng.
Ngoài ra, tác giả cũng đã xây dựng được hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các ngân hàng thương mại tại Hà Nội, đồng thời cũng đề xuất một số kiến nghị với ngân hàng nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại cổ phần. Tác giả Nguyễn Ngọc Thùy (2012) thực hiện luận văn đánh giá “hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng ACB tại Kỳ Hòa, thành phố Hồ Chí Minh” từ năm 2009-2011. Trong luận văn này, tác giả đã đưa ra những hạn chế còn tồn tại trong ngân hàng ACB chi nhánh Kỳ Hòa như cho vay tín chấp thấp, không có nhiều khách hàng mới, nợ xấu nhiều. Qua đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho ngân hàng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Có rất ít công trình khoa học, đề tài nghiên cứu viết về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng BIDV Hà Giang trong giai đoạn 2010-2014. Qua những đề tài trên, một số đề tài nghiên cứu cả hai vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn, nhưng cũng có một số đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề hiệu quả sử dụng vốn. Trên tinh thần kế thừa và phát huy vấn đề đã được nghiên cứu, đề tài này sẽ đi sâu nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng BIDV – chi nhánh Hà Giang, trong đó có đánh giá mối liên hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng BIDV – chi nhánh Hà Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng thƣơng mại Hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn là những vấn đề có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng cũng như đối với nền kinh tế. Các hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, để hiểu rõ hoạt động sử dụng vốn, đề tài cần tìm hiểu về các hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội - Các khoản tiền gửi của khách hàng Tiền gửi tiết kiệm của dân cư Đây là khoản tiền gửi lớn của ngân hàng.
Khách hàng bao gồm tất cả người dân và các tổ chức có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sửa dụng. Mục đích để họ gửi tiền vào ngân hàng để tìm kiếm một khoản lãi. Tiền ký gửi Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng. Ngân hàng sẽ không thể cho vay đối với những khoản tiền này của khách hàng vì họ phải đảm bảo trả lại chính những đồng tiền mà họ được bảo quản.
- Vốn vay của các tổ chức tín dụng Huy động vốn từ Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại theo nhiều hình thức như cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá. Huy động vốn từ trong hệ thống Một ngân hàng thương mại còn bao gồm rất nhiều các chi nhánh nằm tại nhiều địa phận khác nhau nên luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn và thiếu vốn với các chi nhánh trong cùng một hệ thống. Do tình hình kinh tế - xã hội khác nhau nên tác động mạnh tới nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn của từng chi nhánh. Để giải quyết tình trạng này, các ngân hàng thường thực hiện việc điều hòa vốn trong cùng một hệ thống.
Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động cho vay Đây là hoạt động cơ bản và chủ yếu trong việc sử dụng và khai thác nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Hoạt động này được phân chia theo nhiều hình thức khác nhau. - Theo hình thức bảo đảm gồm có: 6 Cho vay có bảo đảm: là hình thức cho vay có cầm cố các vật thế chấp cụ thể. Vật thế chấp bao gồm: bất động sản, máy móc, thiết bị, cổ phiếu, khoản lương,… Cho vay không có bảo đảm hay còn gọi là cho vay tín chấp: là hình thức cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, ngân hàng sẽ cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần tài sản thế chấp. - Theo cách thức hoàn trả gồm có: Cho vay hoàn trả một lần: là những hợp đồng cho vay yêu cầu trả một lần vào thời gian đáo hạn. Khoản lãi có thể trả vào những thời điểm khác nhau hoặc trả khi đáo hạn. Cho vay hoàn trả nhiều lần: là những hợp đồng cho vay yêu cầu người đi vay hoàn trả theo những thời điểm nhất định.
Khoản vay này thực hiện theo nguyên tắc trả dần theo kỳ hạn. - Theo định mức kỳ hạn gồm có: Cho vay ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng và sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Khoản vay này chủ yếu sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh,… Cho vay dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm và tối đa là 20-30 năm.
Khoản vay này được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm các thiết bị có quy mô lớn, xây dựng xí nghiệp mới… Hoạt động đầu tư Hoạt động này giúp ngân hàng thương mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động được. Đồng thời, nó mang lại nguồn thu nhập quan trong cho ngân hàng thương mại. 7 Ngân hàng thương mại được phép mua cổ phiếu và trái phiếu của các doanh nghiệp, thông qua đó ngân hàng tham gia vào việc thành lập quản lý các doanh nghiệp. Hoạt động ngân quỹ Là hoạt động thực hiện việc chi trả cho khách hàng.
Hoạt động bao gồm nghiệp vụ ngân quỹ về tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác, tiền trong quá trình thu nhận và nghiệp vụ chứng khoán ngắn hạn. - Quỹ tiền mặt bao gồm tiền giấy dùng để chi trả cho khách hàng. - Tiền gửi tại ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán 1. Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay, do đó hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Để có vốn vay, ngân hàng thực hiện huy động vốn. Khi có vốn rồi, ngân hàng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản đầu tư. Quá trình huy động vốn tạo nguồn vốn và quá trình sử dụng vốn tạo ra tài sản cho ngân hàng. Số lượng vốn huy động, loại hình, thời hạn phụ thuộc vào chiến lược tín dụng của ngân hàng.
Khi ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm lĩnh thị trường lớn thì ngân hàng tăng cường hoạt động huy động vốn để có đủ số vốn cần thiết. Trong trường hợp doanh số cho vay của ngân hàng không tăng nhưng để tăng lợi nhuận ngân hàng giảm bớt loại vốn huy động có lãi suất cao, tăng cường vốn huy động có lãi suất thấp và giảm bớt chi phí của việc huy động.