chương I của Luật doanh nghiệp theo nghị quyết số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Xét trên phương diện tổng quát trong nền kinh tế, tài sản là tất cả những thứ mà khi mang ra thị trường sẽ có người sẵn sàng trả một số tiền nhất định hay chấp nhận trao đổi ngang giá với một thứ có giá trị tương đương để có được quyền sở hữu nó. Đối với một doanh nghiệp, đã muốn thực hiện công việc đầu tư sinh lợi thì không thể bỏ qua việc đầu tư vào mua sắm hay tích lũy tài sản.
Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: Tài sản là toàn bộ của cải vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.[7, tr 3] Tài sản của doanh nghiệp là các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, thể hiện dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Tài sản có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy được trước và trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng có thể là những của 9 cải thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản… thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định. Phân loại tài sản Có nhiều cách để phân loại tài sản như: - Theo hình thái biểu hiện, tài sản bao gồm: Tào sản hữu hình và tài sản vô hình. - Theo nguồn hình thành, tài sản bao gồm: tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và tài sản được tài trợ bởi vốn nợ.
- Theo tính chất tuần hoàn và luân chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và tài sản lưu động. - Theo đặc điểm và thời gian sử dụng, tài sản bao gồm: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó, cách phân loại cuối là cách phân loại phổ biến nhất. Sau đây là những nghiên cứu khái quát về hai loại tài sản này.
Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá ba tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.
(Theo chuẩn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002) Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm cac khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu 1 kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, tría phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm. Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm dở dang. Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
Tài sản dài hạn Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn. Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm: Tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và đầu tư xây dựng cơ bản ở doanh nghiệp, chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại. Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh, như: Nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn…[6, tr30] Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vô hình. Thông thường, tài sản cố định vô hình bao gồm: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế…[6, tr56] Tài sản tài chính dài hạn: là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng 1 tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm.
Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp. Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc nhờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai - Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuê trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác.
Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp. Quản lý tài sản trong doanh nghiệp Do những đặc điểm trên, việc quản lý tài sản cần phải được thực hiện trên các phương diện sau: Quản lý hiện vật: Phương thức quản lý này yêu cầu doanh nghiệp phải tiến hành phân loại tài sản theo những tiêu thức khác nhau, để từ đó có những biện pháp quản lý và sử dụng tài sản hiệu quả hơn. Ngoài ra, việc đảm bảo quản lý một cách liên tục và có hệ thống cũng rất quan trọng.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải đảm bảo quản lý sổ sách kế toán theo dõi được hiện trạng của tài sản theo phương thức hợp lý như: theo dõi số lượng, giá trị tài sản, công suất của máy so với công suất thiết kế, tình trạng máy so với chất lượng sản phẩm sản xuất, tình trạng bảo dưỡng, sửa chữa máy… Quản lý về mặt giá trị Phương thức quản lý này gắn liền với công việc tính khấu hao tài sản cố định và quản lý, sử dụng quỹ khấu hao của doanh nghiệp. Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan. Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định là: - Do quá trình sử dụng và do tác động của moi trường, hình thái vật chất của tài sản cố định bị tác động như: bị biến dạng, gãy hỏng… gọi là hao mòn hữu hình. - Do tiến bộ khoa học – công nghệ, làm cho tài sản cố định bị giảm giá hoặc bị lỗi thời, như: làm xuất hiện nhiều tài sản cố định có năng lực như tài sản cũ nhưng rẻ hơn, hoặc dây chuyền công nghệ bị lạc hậu so với sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật,… gọi là hao mòn vô hình.
Do tài sản cố định bị hao mòn nên trong mỗi chu kì sản xuất nên người ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương với phần hao mòn vào giá thành sản phẩm. Khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích lại một 1 quỹ nhằm tái sản xuất tài sản cố định, công việc đó gọi là khấu hao tài sản cố định. Như vậy, đối với doanh nghiệp, việc tính toán mức khấu hao tài sản một cách chính xác và phù hợp với thực trạng kinh doanh là rất quan trọng. Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng.
Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên liệu, mua tài sản cố định, trả nợ. Tiền mặt bản thân nó là một tài sản không sinh lãi, do đó trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải nắm giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc nắm giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là một vấn đề cần thiết vì những lý do sau: - Đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày.