CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET VE HIỆU QUA SỬ DỤNG TAI SAN CUA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu Nhìn chung, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại CTCP Xuất nhập khẩu Than — VINACOMIN”, Luận văn Thạc sỹ 2006, lưu tại Học viện Tài chính, của tác giả Lê Thị Huyền Trang đã nêu ra một sỐ lý luận cơ bản về vốn lưu động và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại CTCP Xuất nhập khẩu than. Ngoài ra, bài viết đã nêu lý luận và phương pháp quản trị vốn lưu động bằng tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho trong doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Nang cao hiệu quả sử dụng tai san của CTCP Hang hải Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ 2008, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc dân, của tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung đã phân tích và chỉ ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. “Nâng cao hiệu quả sử dụng von tại CTCP Kính VIGRACERA Đáp Cau”, Luận văn Thạc sỹ 2009, lưu tại Đại học Kinh tế — Đại học Quốc gia Hà Nội, của tác giả Ngô Thị Thanh Huyền đã làm rõ về mặt lý luận quá trình luân chuyền vốn trong CTCP kính Đáp Cầu, từ quá trình đưa vốn vào kinh doanh, đến việc đánh giá thực trạng sử dụng vốn của công ty, từ đó tìm ra những nguyên nhân cơ bản và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dung vốn. Tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong Công ty. “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH gom sử Bát Tràng”, Luận văn Thạc sỹ 2012, lưu tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, của tác giả Đào Thị Thu Huyền đã chỉ ra những thành công, hạn chế của công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng trong việc sử dụng tài sản.
Từ đó, giúp doanh nghiệp hoàn thiện hơn trong quản lý, nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. “Đau đâu bài toán sử dụng vốn hiệu quả” của tác giả Nguyễn Minh Đức, đăng trên Diễn đàn Kinh tế Việt Nam ngày 12/5/2011 nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Việt Nam. “Sáu sai lầm trong quản trị vốn lưu động” Tác giả Kevin Kaiser và S.David Young trên Harvard Business Review. Bài phân tích đã nêu nên sáu sai lầm trong quản trị vốn lưu động được đúc rút từ nghiên cứu hoạt động cảu các công ty và tập đoàn lớn trên thế giới (Quản lý bằng báo cáo thu nhập, khen thưởng lực lượng bán hàng chỉ vì toocs độ tăng trưởng đạt được, áp dụng hệ số thanh toán nợ hiện tại và hệ số thanh toán nợ nhanh, quá chú trọng đến chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, lay đối thủ làm chuẩn, quản lý các khoản phải thu theo các khoản phải trả).
Các công trình, bài viết nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề chung về tài sản, hiệu quả sử dụng tài sản, nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp sử dụng tài sản kém hiệu quả. Từ đó, nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số đề tài nghiên cứu đã không con tính cập nhật do năm nghiên cứu là trước năm 2012 cũng như chưa có nghiên cứu nảo tiếp cận có hệ thong đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Tập đoàn DABACO Việt Nam. Do vậy, kế thừa phương pháp nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, tôi đã chọn đề tài “Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phan Tập đoàn DABACO Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đánh giá thực trạng hiệu quả sử dung tài sản tại Công ty Cổ phần Tap đoàn DABACO Việt Nam - một tập đoàn lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, tim ra những vấn đề còn tôn tại trong hiệu quả sử dụng tài sản, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty.
Cơ sở lý thuyết về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Theo điều 163, Bộ Luật Dân sự 2005: Tài sản của doanh nghiệp là tắt cả các nguồn luc có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó. Như vậy, tài sản của doanh nghiệp là tất cả nguồn lực thực có của doanh nghiệp, bao gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp đó. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, băng phát minh sáng chế.
nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Ngoài ra, tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai như tài sản thuê tài chính. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Căn cứ vao mục đích nghiên cứu, có nhiều cách phân loại tài sản của doanh nghiệp như : v Căn cứ theo chu kỳ sản xuất kinh doanh: Tài sản được phân thành Tài sản cô định và Tài sản lưu động. * Căn cứ theo đặc tính cấu tạo vật chất: Tài sản được phân thành Tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
* Căn cứu theo kết cau: Tài sản được phân thành Tài sản ngắn hạn và Tài sản đài hạn. * Căn cứ theo chức năng: Tài sản được phân thành Tài sản hoạt động và Tài sản tải chính. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả tìm hiểu sâu hơn về cách phân loại tài sản theo kết cấu cảu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Tài sản được phân thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
* Tài sản ngắn hạn Một tài sản được xếp vào TSNH khi tài sản này có thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyên trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Những tài sản này là tiền hoặc tương đương tiền, việc sử dụng chúng không gặp bất kỳ hạn chế nào hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại, mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi trong vòng một năm. Có nhiều tiêu chí khác nhau dé phân loại TSNH. Ở đây, tác giả chỉ đề cập đến tiêu chí phân loại được sử dụng trong bài nghiên cứu là phân loại căn cứ theo hệ thống tài khoán kế toán trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Khi đó, TSNH bao gồm: Tiên và các khoản tương đương tiền: Phản ánh tong hợp toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Trong đó, tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyên. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn han có thời hạn thu hồi hoặc đáo han không quá 3 tháng có kha năng chuyên đổi dé dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyên đổi thành tiền ké từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo. Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (Như: Tín phiếu Kho Bạc, Kỳ phiếu ngân hàng,.) hoặc các chứng khoán mua vào ban ra (cổ phiếu, trái phiếu) dé kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu ngắn hạn: Khoản phải thu xuất hiện khi có các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bat cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Các khoản phải thu ngắn hạn bao gồm: phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thời gian thanh toán dưới một năm. Ton kho: bao gồm vật tu, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm do dang được doanh nghiệp giữ trong kho.
Doanh nghiệp giữ hàng tồn kho nhằm mục đích đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc đảm bảo có sản phẩm cung ứng cho người mua. Ngoài ra, việc tích trữ hàng tồn kho còn nhằm mục đích đề phòng những bắt trac nhât định trong nguôn cung, nguôn câu, trong giao nhận hàng. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm Chi phi trả trước ngắn hạn; thuế GTGT được khấu trừ; thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước và tài sản ngắn hạn khác. * Tài sản dài hạn Tất cả các tài sản khác ngoài TSNH được xếp vào loại TSDH, là những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyên trên một năm.
Bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, TSCĐ, bất động sản đầu tư, các khoản TSTC dài hạn và các TSDH khác. Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời gian thu hồi hoặc thanh toán trên một năm. Bắt động sản dau tu: là những BĐS như: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải dé sử dụng trong sản xuất, cung cấp hang hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. BĐS đầu tư khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và xác định nguyên giá một cách đáng tin cậy sẽ được ghi nhận là tải sản.