phần mở đầu, phần kết luận và các danh mục bảng biểu, phụ lục kèm theo, kết cấu Luận văn gồm 3 phần chính nhƣ sau: Phần 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc của Ngân hàng Nhà nƣớc đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân. Phần 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc của Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Bình Thuận đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn. Phần 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc của Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Bình Thuận đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn. 8 CHƢƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.
Tổng quan về hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân là một hình thức hợp tác xã tài chính dựa nhiều vào liên kết xã hội và mối quan hệ giữa các thành viên. Các quỹ tín dụng nhân dân có sứ mệnh xã hội là phục vụ những ngƣời dễ bị tổn thƣơng, nhƣng chúng cũng đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, xã hội, và nền kinh tế. Mặc dù cũng giống nhƣ các ngân hàng hợp tác xã ở nhiều mặt, nhƣng quỹ tín dụng đƣa ra nhiều hình thức cung ứng tài chính riêng biệt đƣợc chứng minh là thành công ở nhiều quốc gia.
Quỹ tín dụng có lịch sử hình thành và phát triển từ rất sớm (Đức, Anh, Pháp… vào nửa cuối thế kỷ 19, Canada và Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20). Theo số liệu thống kê đến năm 2011 của Hội đồng Quỹ tín dụng Thế giới đã có sự tham gia của 196 triệu thành viên/51.000 Quỹ tín dụng của trên 100 nƣớc tham gia và quản lý khối tài sản giá trị hơn 1,5 nghìn tỷ đô la Mỹ. Quá trình hình thành và phát triển mô hình QTDND luôn gắn liền với lịch sử phong trào HTX nói chung và Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) nói riêng. Cho đến nay các HTXTD hầu nhƣ đã hiện diện ở tất cả các nƣớc với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau nhƣ: HTXTD, Quỹ tín dụng và tiết kiệm, QTDND, NH, HTX,.
trong đó mô hình QTDND phát triển khá thành công ở các nƣớc: Pháp, Đức, Nga, Canada, Malaysia, Indonexia, Thái Lan… Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm ra đời và phát triển, mô hình QTDND đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thời kỳ thí điểm thành lập mô hình QTDND đƣợc tổ chức theo 03 cấp, bao gồm QTDND cơ sở, QTDND khu vực và QTDND Trung ƣơng. 9 Theo Luật Các TCTD số 47/2010/QH12 thì “TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và QTDND”; hoặc “QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dƣới hình thức HTX để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống” [Điều 4].
Theo Nghị định 48/2001/NĐ-CP ngày 13/08/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của QTDND thì “QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động SXKD, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển” [6–Tr. Theo Thông tƣ số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 thì “Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống”. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận, tên gọi khác nhau, song đều có sự thống nhất về khái niệm QTDND với nội dung: QTDND là loại hình ngân hàng hợp tác do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân Dựa vào khái niệm và các quy định cụ thể của pháp luật thì QTDND có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của QTDND 10 QTDND là một TCTD theo mô hình hợp tác xã, thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Nguyên tắc hoạt động của QTDND dựa trên tính tự nguyện tham gia của thành viên góp vốn, quá trình quản lý dân chủ và bình đẳng thông qua Đại hội thành lập hoặc Đại hội thành viên hằng năm; tự chủ nguồn vốn, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh mang lại cùng lợi ích cho các thành viên và sự phát triển của QTDND; phát huy nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng dựa trên sức mạnh tập thể của các thành viên, nguồn vốn nội lực với mong muốn duy trì và ngày càng phát triển thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống của các thành viên/khách hàng. Theo đó: Mỗi QTDND có tƣ cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh độc lập, có vốn điều lệ và cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ riêng lẻ. Trong toàn hệ thống các QTDND đƣợc Ngân hàng HTX liên kết với nhau, bảo đảm an toàn hệ thống thông qua quá trình hỗ trợ tài chính, giám sát hoạt động, điều hòa vốn và thực hiện các hoạt động ngân hàng.
Thành viên QTDND vừa là ngƣời góp vốn, đồng thời là ngƣời vay vốn, hoặc gửi tiền, sử dụng các dịch vụ ngân hàng mà QTDND đó đƣợc phép cung cấp và đƣợc hƣởng lợi tức tƣơng đƣơng với tỷ lệ số vốn đã góp. Các QTDND phải tổ chức Đại hội thành viên một năm một lần, qua đó các thành viên tham gia Đại hội đƣợc thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của QTDND nhƣ: nhân sự bộ máy quản trị, điều hành, phƣơng hƣớng hoạt động, tăng giảm vốn điều lệ, danh sách thành viên kết nạp mới, sửa đổi bổ sung Điều lệ, phƣơng án tiền lƣơng… và thực hiện biểu quyết thông qua các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh cho năm tiếp theo. Thứ hai, về phạm vi hoạt động và quy mô hoạt động Phạm vi hoạt động của một QTDND là địa bàn một xã, một phƣờng, một thị trấn hoặc có thể đƣợc hoạt động liên xã trong cùng một tỉnh khi đáp ứng đủ các điều kiện do Ngân hàng Nhà nƣớc quy định. Địa bàn nhỏ, hẹp chính là thế mạnh của 11 QTDND trong quá trình hoạt động kinh doanh do có thể nắm bắt nhu cầu vay vốn và khả năng tài chính của khách hàng, thành viên vay vốn, thuận tiện trong quá trình giám sát nguồn vốn cho vay và tăng cƣờng lợi thế khả năng huy động vốn.
Tuy nhiên, địa bàn hoạt động không lớn nên quy mô hoạt động, năng lực tài chính của các QTDND thƣờng nhỏ bé, trình độ quản lý, năng lực nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại QTDND đa phần còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cơ cấu tổ chức của QTDND Tổ chức bộ máy QTDND bao gồm thành viên, Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Bộ máy điều hành, trong đó: - Thành viên của QTDND là chủ sở hữu, đồng thời là khách hàng của QTDND, thành viên có vị trí vai trò quan trọng trong sự tồn tại phát triển của QTDND, không có thành viên thì không có QTDND. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng QTDND và pháp luật quy định, Điều lệ QTDND quy định cụ thể về thành viên, mức vốn góp tối thiểu của thành viên. - Đại hội thành viên là cơ quan quyền lực cao nhất của QTDND, có quyền quyết định những vấn đề lớn, quan trọng liên quan tới các lĩnh vực then chốt của QTDND nhƣ: thông qua Điều lệ hoạt động QTDND; tăng, giảm vốn điều lệ, mức góp vốn của thành viên; bầu, miễn nhiệm các thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, Chủ tịch HĐQT, Trƣởng Ban kiểm soát; quyết định việc chia tách, sáp nhập, mua lại, giải thể QTDND… Việc xem xét quyết định của Đại hội thành viên đƣợc thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, quyết định theo đa số.
- HĐQT do Đại hội thành viên trực tiếp bầu ra để thay mặt thành viên quản trị QTDND, thành viên HĐQT phải là thành viên của QTDND. HĐQT chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trƣớc Đại hội thành viên và trƣớc pháp luật. Chủ tịch HĐQT là ngƣời đại diện cho QTDND trƣớc pháp luật, là ngƣời lập chƣơng trình, kế hoạch hành động của HĐQT, triệu tập và chủ trì các cuộc họp của HĐQT, phân công và theo dõi các thành viên HĐQT thực hiện nghị quyết Đại hội thành 12 viên và quyết định của HĐQT, kiểm tra, đánh giá công việc điều hành QTDND của Ban điều hành QTDND. - Ban kiểm soát do Đại hội thành viên bầu trực tiếp nhằm thay mặt các thành viên kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của QTDND.
Thành viên của Ban kiểm soát phải là thành viên của QTDND và không đƣợc là thành viên của HĐQT hoặc nhân viên của QTDND để tránh xung đột về quyền lợi, không đảm bảo việc kiểm tra giám sát một cách khách quan. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc: chấp hành Điều lệ QTDND, Nghị quyết Đại hội thành viên; giám sát hoạt động của HĐQT, Ban điều hành QTDND; giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đƣợc quy định theo Pháp luật, đặc biệt là việc hoàn thành nhiệm vụ tƣơng trợ thành viên. - Bộ máy điều hành gồm có Giám đốc, Phó Giám đốc; giúp việc cho Bộ máy điều hành còn có Kế toán trƣởng, nhân viên nghiệp vụ trong các lĩnh vực kế toán, tín dụng, ngân quỹ và các nhân viên khác.