Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Hoạt Động GD Giá Trị Sống THPT Chu Văn An, Thái Bình

Khám phá luận văn thạc sĩ về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh tại THPT Chu Văn An, Thái Bình. Nghiên cứu sâu về giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

7. Những đóng góp của luận văn

8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến luận văn

1.2.1. Hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục giá trị sống

1.2.2. Quản lý, Quản lý giáo dục

1.2.3. Quản lý nhà trường, Quản lý nhà trường THPT

1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

1.2.5. Giá trị sống và giáo dục giá trị sống ở trường THPT

1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT

1.3. Mục tiêu hoạt động giáo dục giá trị sống; nội dung; biện pháp hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT

1.3.1. Mục tiêu hoạt động giáo dục giá trị sống

1.3.2. Mục tiêu tổ chức các hoạt động GDGTS

1.3.3. Nội dung hoạt động giáo dục giá trị sống

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT

1.4.1. Quản lý việc xây kế hoạch hoạt động GDGTS

1.4.2. Tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống

1.4.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống

1.4.5. Tổ chức phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống

1.5. Yếu tố ảnh hưởng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN, THÁI BÌNH

2.1. Khái quát về các đặc điểm Kinh tế - Xã hội, khu vực tuyển sinh của trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.1.1. Vị trí địa lí

2.1.2. Các điều kiện về kinh tế , văn hoá, xã hội

2.2. Thực trạng giáo dục của trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.3.1. Thực trạng sự tiếp nhận thông tin liên quan đến GTS của học sinh THPT Chu Văn An

2.3.2. Nhận thức của giáo viên và học sinh về GTS. sự cần thiết phải GDGTS cho học sinh; đánh giá của giáo viên về thực trạng hoạt động GDGTS của học sinh thông qua hoạt động NGLL

2.3.3. Thực trạng về chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh

2.4. Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.4.1. Thực trạng biện pháp quản lí kế hoạch và thực hiện kế hoạch hoạt động GDGTS ở trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.4.2. Thực trạng về mức độ quản lý hoạt động GDGTS của cán bộ quản lý và giáo viên

2.4.3. Thực trạng về biện pháp quản lý tuyên truyền, giáo dục về hoạt động GDGTS giữa cán bộ quản lý với đội ngũ giáo viên, giáo viên với

2.4.4. Thực trạng về mức độ quản lý đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động GDGTS

2.4.5. Thực trạng sự quản lý sự phối hợp, hỗ trợ của nhà trường với Đoàn Thanh niên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống

2.4.6. Thực trạng biện pháp quản lý chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống

2.4.7. Thực trạng biện pháp tuyên truyền đến hội cha mẹ học sinh về hoạt động giáo dục giá trị sống

2.4.8. Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động GDGTS của GVCN lớp

2.4.9. Thực trạng vai trò của Đoàn thanh niên trong nhà trường với việc tổ chức các họat động giáo dục giá trị sống

2.4.10. Thực trạng biện pháp kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng đến công tác tổ chức các hoạt động GDGTS

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

2.5.1. Nhận thức của cha mẹ học sinh và đội ngũ giáo viên, học sinh, về quản lý hoạt động GDGTS

2.5.2. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính đến công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

2.5.3. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố năng lực tổ chức hoạt động GDGTS của giáo viên THPT Chu Văn An

2.5.4. Mức độ ảnh hưởng của vị trí địa lý nhà trường đến quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

2.6. Đánh giá thực trạng: Thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG Ở TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN, THÁI BÌNH

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa và phát triển

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và khả thi

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính văn hóa

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống của trường THPT Chu Văn An, Thái Bình

3.2.1. Xác định các GTS phù hợp với học sinh trung học phổ thông theo chương trình giáo dục tổng thể

3.2.2. Nâng cao vai trò của Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống và phân công trách nhiệm cho các tổ chức trong nhà trường

3.2.3. Quản lý kế hoạch hóa hoạt động giáo dục GTS phù hợp với trường THPT Chu Văn An như một bộ phận cấu thành của kế hoạch chung của nhà trường

3.2.4. Quản lý và tổ chức tốt các nguồn lực thực hiện tốt kế hoạch năm học cũng như kế hoạch giáo dục giá trị sống

3.2.5. Quản lý, tổ chức, thiết lập mối liên hệ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và các tổ chức chính trị- xã hội triển khai hoạt động giáo dục GTS cho học sinh

3.2.6. Quản lý việc đổi mới hình thức chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh

3.2.7. Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục GTS cho học sinh

3.2.8. Quản lý việc xây dựng các điều kiện tinh thần, vật chất hỗ trợ thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề quản lý đề xuất

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Đối tượng và kết quả khảo nghiệm

3.4.3. Phương pháp khảo nghiệm

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý GD Giá Trị Sống Cho Học Sinh THPT

Giáo dục giá trị sống (GDGTS) đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhân cách và kỹ năng cho học sinh THPT. Trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều thách thức, việc quản lý giáo dục giá trị sống hiệu quả giúp học sinh xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc, khả năng thích ứng linh hoạt và lối sống tích cực. Giáo dục đào tạo có vai trò quyết định trong việc đào tạo con người - nguồn nhân lực có trình độ cao, nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh và sự thành bại của mỗi quốc gia, dân tộc. Điều 2 Luật giáo dục 2005 đã nêu mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Khai mạc Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: “Giáo dục đào tạo phải theo hướng cân đối giữa dạy người, dạy chữ, dạy nghề”, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất. Trong chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Phó thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường THPT giai đoạn 2008-2013 xác định: “Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo”, “Huy động và tạo điều kiện để có sự tham gia hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức, cá nhân trong việc giáo dục văn hoá, truyền thống lịch sử cách mạng cho học sinh” với mục tiêu “Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội”. GDGTS sẽ phát huy tối đa vai trò chủ thể của học sinh, củng cố, mở rộng tri thức .Từ đó các em xây dựng cho mình một hệ giá trị cốt lõi vững chắc làm điểm tựa để vượt qua những cám dỗ thách thức trong cuộc sống.

1.1. Bản Chất Của Hoạt Động Giáo Dục Giá Trị Sống Là Gì

Hoạt động giáo dục giá trị sống là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng sử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội, của cá nhân với xã hội, của cánhaan với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống. Hoạt động GDGTS có một vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm gần đây, do yêu cầu của đổi mới giáo dục, GDGTS đã được các nhà trường tổ chức theo chủ đề : Giáo dục giá trị trung thực ; giáo dục giá trị đoàn kết ; giáo dục giá trị tôn trọng, khoan dung ; giáo dục giá trị trách nhiệm. Quản lý tốt hoạt động GDGTS sẽ tạo môi trường thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục, góp phần đào tạo những con người thích ứng với xu thế mới, đó là những con người có sức khoẻ, có trí tuệ, sáng tạo, năng động, tự chủ, tích cực, có khả năng hoạt động, giao lưu, thích ứng với xã hội hiện đại, xu thế phát triển của thế kỷ XXI.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Giá Trị Sống Trong THPT

Trong những năm gần đây, do yêu cầu của đổi mới giáo dục, GDGTS đã được các nhà trường tổ chức theo chủ đề : Giáo dục giá trị trung thực ; giáo dục giá trị đoàn kết ; giáo dục giá trị tôn trọng, khoan dung ; giáo dục giá trị trách nhiệm. Quản lý tốt hoạt động GDGTS sẽ tạo môi trường thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục, góp phần đào tạo những con người thích ứng với xu thế mới, đó là những con người có sức khoẻ, có trí tuệ, sáng tạo, năng động, tự chủ, tích cực, có khả năng hoạt động, giao lưu, thích ứng với xã hội hiện đại, xu thế phát triển của thế kỷ XXI. Để đáp ứng sự phát triển của đất nước, do nhu cầu đổi mới giáo dục cũng như đáp ứng nhu cầu của người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những năng lực cần thiết, phát huy tiềm năng sáng tạo cho họ: “năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống”.

II. Thách Thức Trong Quản Lý Giáo Dục Giá Trị Sống Ở THPT

Bên cạnh những lợi ích to lớn, việc quản lý giáo dục giá trị sống trong trường THPT còn đối mặt với nhiều thách thức. Đó là sự thiếu đồng bộ trong nhận thức của giáo viên, sự hạn chế về nguồn lực và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Đồng thời, ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài cũng tác động không nhỏ đến quá trình hình thành giá trị sống của học sinh. Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, hiện tượng bạo lực học đường ngày càng nhiều. Đã xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là bạn học và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục sớm, . thậm chí là tự sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống. Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém. Một bộ phận học sinh sẵn sàng chửi bậy, đánh nhau, sa đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống…. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hệ giá trị sống cốt lõi vững chắc, do vậy không có điểm tựa để vượt qua . Do chưa được tiếp cận với chương trình GDGTS nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh THPT nói riêng còn thiếu hụt những giá trị cốt lõi cần thiết. Chính vì thiếu giá tri cốt lõi mà nhiều học sinh đã giải quyết các vấn đề một cách tiêu cực.

2.1. Thiếu Hụt Trong Nhận Thức Về Giá Trị Sống Ở Học Sinh

Một bộ phận học sinh còn có những thái độ và hành vi chưa lành mạnh do chưa có hệ GTS phù hợp với GTS khách quan của xã hội. Giáo viên gặp khó khăn trong thực hiện GDGTS cho học sinh vì chưa hiểu bản chất của GDGTS, và chưa biết cách làm phù hợp với cơ chế chuyển GTS khách quan thành GTS cá nhân. Trong gia đình và xã hội còn tồn tại những phản giá trị, có tác động đến niềm tin, thái độ của học sinh. Cha mẹ chưa quan tâm và chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục GTS và biết cách GDGTS cho con.

2.2. Hạn Chế Về Nguồn Lực Và Sự Phối Hợp Trong Giáo Dục

Trong nhà trường chưa có chương trình giáo dục hiệu quả, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường và ngoài cộng đồng. Cần những nguồn lực nào để quản lý giáo dục giá trị sống hiệu quả? Phối hợp gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục giá trị sống. Xây dựng môi trường học đường thân thiện và tích cực để hỗ trợ giáo dục giá trị sống.

III. Phương Pháp Quản Lý GD Giá Trị Sống Hiệu Quả Tại THPT

Để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục giá trị sống tại trường THPT, cần áp dụng các phương pháp tiếp cận đa chiều và toàn diện. Việc xây dựng môi trường học đường thân thiện, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm và tăng cường sự tương tác giữa nhà trường, gia đình và xã hội là những yếu tố then chốt. Mục tiêu của giáo dục hướng tới những giá trị đạo đức cơ bản, năng lực nghề nghiệp, tiềm năng sáng tạo, kỹ năng cần thiết và sức khỏe ở người lao động của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những giá trị đạo đức, năng lực nghề nghiệp, tiềm năng sáng tạo, kỹ năng cần thiết và sức khỏe của người lao động không thể ngẫu nhiên mà có, nó phụ thuộc phần lớn vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, được hình thành, phát triển, củng cố qua các giờ học trên lớp và các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục giá trị sống (GDGTS) cho học sinh, với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng đang giữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Là một trong ba kế hoạch đào tạo: dạy học, giáo dục ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp dạy nghề nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo theo các hướng giáo dục đạo đức, nhân văn và khoa học kỹ thuật.

3.1. Xây Dựng Môi Trường Học Đường Thân Thiện Tích Cực

Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Tạo môi trường thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục, góp phần đào tạo những con người thích ứng với xu thế mới, đó là những con người có sức khoẻ, có trí tuệ, sáng tạo, năng động, tự chủ, tích cực, có khả năng hoạt động, giao lưu, thích ứng với xã hội hiện đại, xu thế phát triển của thế kỷ XXI.

3.2. Tạo Điều Kiện Cho Học Sinh Tham Gia Trải Nghiệm

Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo”. Xây dựng môi trường học đường thân thiện và tích cực. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh THPT rèn luyện và thực hành giá trị sống. Giáo dục giá trị sống thông qua các dự án học tập thực tế tại THPT Chu Văn An.

3.3. Tăng Cường Tương Tác Giữa Gia Đình Nhà Trường Xã Hội

Huy động và tạo điều kiện để có sự tham gia hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức, cá nhân trong việc giáo dục văn hoá, truyền thống lịch sử cách mạng cho học sinh. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục giá trị sống cho học sinh. Tổ chức phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống

IV. Các Biện Pháp Quản Lý GD Giá Trị Sống Cho Học Sinh THPT

Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống của trường THPT Chu Văn An, Thái Bình . Xác định các GTS phù hợp với học sinh trung học phổ thông theo chương trình giáo dục tổng thể. Nâng cao vai trò của Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống và phân công trách nhiệm cho các tổ chức trong nhà trường . Quản lý kế hoạch hóa hoạt động giáo dục GTS phù hợp với trường THPT Chu Văn An như một bộ phận cấu thành của kế hoạch chung của nhà trường . Quản lý và tổ chức tốt các nguồn lực thực hiện tốt kế hoạch năm học cũng như kế hoạch giáo dục giá trị sống . Quản lý, tổ chức, thiết lập mối liên hệ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và các tổ chức chính trị- xã hội triển khai hoạt động giáo dục GTS cho học sinh .

4.1. Xây Dựng Kế Hoạch Phân Công Trách Nhiệm Rõ Ràng

Quản lý việc xây kế hoạch hoạt động GDGTS . Lập kế hoạch là một chức năng quản lý, tạo ra khả năng tốt nhất để hoàn thành mục tiêu. Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Kế hoạch là chương trình (phương án) hành động hướng vào việc thực hiện một mục tiêu nào đó trong tương lai”. Xây dựng kế hoạch hoạt động GDGTS là dự kiến những nội dung hoạt động, hình thức tổ chức, sắp xếp theo trình tự thời gian năm học. Kế hoạch làm cho các hoạt động của nhà trường có mục đích, yêu cầu rõ ràng; chủ động, khoa học trong quản lý, chỉ đạo. Khi xây dựng kế hoạch hoạt động cần xác định mục tiêu trong hoạt động này cần đạt được mục tiêu nào? Những GTS các em học sinh sẽ được rèn luyện, tích luỹ, các phương thức đạt mục tiêu. Khi lập kế hoạch các nhà quản lý cần quyết định phải làm gì trong hoạt động này? Những kĩ năng cần rèn luyện? Làm như thế nào? Ai là người phụ trách? Ai làm? Lúc nào làm và trong thời hạn bao lâu? Địa điểm tổ chức? Qui mô như thế nào? Cần những điều kiện và phương tiện gì? Những tình huống có thể xảy ra? Bản kế hoạch, phân công rõ ràng, có thời gian hoàn thành và yêu cầu cần đạt.

4.2. Tổ Chức Và Quản Lý Nguồn Lực Hiệu Quả

Quản lý và tổ chức tốt các nguồn lực thực hiện tốt kế hoạch năm học cũng như kế hoạch giáo dục giá trị sống . Quản lý đội ngũ GVCN trong thực hiện nhiệm vụ GDGTS bao gồm các công việc cụ thể sau: +Quản lý việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch hoạt động tuần, tháng, năm học. Đội ngũ cán bộ lớp làm nòng cốt, những Đoàn viên, thanh niên xung kích là nòng cốt trong các hoạt động GDGTS.

V. Thực Tiễn Tại THPT Chu Văn An Đánh Giá Và Giải Pháp

Thực tiễn tại trường THPT Chu Văn An, Thái Bình cho thấy, mặc dù đã có những nỗ lực nhất định trong việc quản lý giáo dục giá trị sống, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Việc đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp sẽ giúp nhà trường nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới. Qua theo dõi, khảo sát, trao đổi với đồng nghiệp làm công tác quản lý ở các trường bạn, từ thực tế công tác ở trường THPT Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình tôi nhận thấy: - Một bộ phận học sinh còn có những thái độ và hành vi chưa lành mạnh do chưa có hệ GTS phù hợp với GTS khách quan của xã hội. - Giáo viên gặp khó khăn trong thực hiện GDGTS cho học sinh vì chưa hiểu bản chất của GDGTS, và chưa biết cách làm phù hợp với cơ chế chuyển GTS khách quan thành GTS cá nhân. - Trong gia đình và xã hội còn tồn tại những phản giá trị, có tác động đến niềm tin, thái độ của học sinh. - Cha mẹ chưa quan tâm và chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục GTS và biết cách GDGTS cho con.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả Quản Lý GD Giá Trị Sống Hiện Tại

Thực tế hiện nay biện pháp quản lý hoạt động GDGTS ở trường THPT Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình chưa được quan tâm đúng mức, nếu đề tài nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống có tính khả thi thì hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường THPT Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình sẽ được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả

Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa, ngày 22/10/2009, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 30/TT-BGDĐT quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông. Ngày 22/10/2009 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành kế hoạch số 640/KH-BGDĐT về tập huấn bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học năm học 2013-2014. Nội dung tập huấn với 5 nội dung: - Năng lực tìm hiểu học sinh. - Tìm hiểu và xây dựng môi trường giáo dục. - Giáo dục tiềm năng sáng tạo. - Tư vấn sức khỏe giới tính. - Giáo dục giá trị. Các nội dung trên rất cần thiết trong thực tiễn giảng dạy làm công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT.

VI. Kết Luận Hướng Đến Tương Lai Của GD Giá Trị Sống

Tóm lại, quản lý giáo dục giá trị sống hiệu quả là yếu tố then chốt để xây dựng thế hệ học sinh THPT có nhân cách tốt đẹp, kỹ năng sống vững vàng và khả năng đóng góp tích cực cho xã hội. Với sự chung tay của nhà trường, gia đình và xã hội, chúng ta có thể tạo ra một môi trường giáo dục lý tưởng, nơi mỗi học sinh được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức và nhân cách. Hoạt động GDGTS chỉ được tổ chức có hiệu quả khi nhà trường phối hợp các lực lượng giáo dục và các tổ chức đoàn thể. Chi bộ thống nhất trong chỉ đạo, ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, tổ chuyên môn, các giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên cốt cán chung tay tổ chức các hoạt động GDGTS. Yếu tố quan trọng nhất là trưởng ban chỉ đạo- Hiệu trưởng phải “keo dính” liên kết các thành viên, các thành viên cùng phối kết hợp, cùng hướng tới mục tiêu chung.

6.1. Tóm Tắt Các Giải Pháp Chính

Những giải pháp bao gồm xây dựng môi trường thân thiện, tăng cường trải nghiệm, kết nối gia đình - nhà trường - xã hội. Quan trọng hơn là sự thấu hiểu và đồng hành của các nhà giáo dục.

6.2. Triển Vọng và Cam Kết

Hướng đến một tương lai khi mỗi học sinh đều được trang bị đầy đủ về giá trị sống, trở thành công dân có ích, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đây là cam kết lâu dài và cần sự nỗ lực không ngừng từ tất cả các bên liên quan.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông chu văn an tỉnh thái bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Trên thế giới Giáo dục là hiện tượng xã hội nảy sinh từ thuở bình minh của lịch sử loài người. Tìm hiểu lịch sử nhân loại, chúng ta thấy khoa học giáo dục được nghiên cứu có hệ thống từ rất sớm. Quá trình giáo dục được tổ chức, thực hiện một cách có ý thức, theo chuẩn mực của xã hội.

Hoạt động giáo dục không chỉ diễn ra trong không gian lớp học mà còn được tổ chức ngoài phạm vi lớp học, nhà trường. Quan điểm giáo dục theo phương thức kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, học đi đôi với hành đã được quan tâm từ lâu. Từ khi có hoạt động dạy học, các nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kỳ lịch sử đã thể hiện, gửi gắm quan điểm này cho hậu thế qua những kinh nghiệm mà đến nay vẫn được coi là phương châm giáo dục. Thế kỉ XIX, C.Anghen (1820-1895) đã xác định mục tiêu của nền giáo dục hiện đại là tạo ra “con người phát triển toàn diện”, sử dụng phương thức “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.

Kế thừa, phát triển học thuyết giáo dục Xã hội chủ nghĩa của C.Lênin (1870-1924) đã vận dụng phương thức giáo dục này vào thực tiễn và coi đó là một trong những nguyên tắc của giáo dục Xã hội chủ nghĩa. Khi xác định “Nhiệm vụ của đoàn thanh niên” (1920), Lênin khẳng định: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng công nhân và nông dân.” Xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã đặt ra cho giáo dục nhiều thách thức. Nhiều quốc gia trên thế giới đã có những định hướng cơ bản để đào tạo người lao động có sức khoẻ, có trí tuệ, năng động, sáng tạo, tự chủ. có khả năng hoạt động, giao lưu, là những “công dân toàn cầu”, thích ứng với xã hội.

Lý luận cơ bản của giáo dục Xã hội chủ nghĩa đã trở thành vấn đề của thời đại. Tổ chức khoa học giáo dục thế giới - UNESCO đã xây dựng chiến lược, định hướng 9 download by : skknchat@gmail.com phát triển cho giáo dục với tư tưởng chỉ đạo: Giáo dục thường xuyên, suốt đời; tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình; giáo dục cho mọi người. Giáo dục hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Trong nước Chu Văn An (1292-1370), nhà sư phạm mẫu mực cuối đời Trần, người được coi là “Thần nghiên - Thánh bút”.

Quan điểm dạy học của Thày Chu là học đi đôi với hành. Thày cho rằng “Học mới chỉ có mắt, hành mới có chân, có mắt có chân mới tiến được; có làm mới biết nhưng cái biết trong làm là cái biết thiết thực sâu sắc nhất”. Học trò có học mới tiếp thu được tri thức, nhận được đường đi, có thế giới quan đúng đắn, nhận biết phải trái, có “hành” mới biết làm, áp dụng tri thức vào thực tế, tạo lập cuộc sống vững chắc, nhưng học phải kết hợp với hành, như con người có cả mắt, có cả chân, vừa có mắt vừa có chân mới tiến được. Khi nền giáo dục mới được tạo lập, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến dạy chữ và dạy người, gắn lý luận với thực tiễn, “Học đi đôi với hành”.

Thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh khuyên các em học sinh: “.Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước ; thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, Người nhắc tới một khái niệm khác của nội hàm khái niệm GDGTS. Người viết: “Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”. Trong muôn vàn bức thư, bài phát biểu, các buổi gặp gỡ, nói chuyện với học sinh và giáo viên, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở các thầy cô giáo và các em học sinh về việc kết hợp giữa học tập và lao động, rèn luỵện.

Ngày 31 tháng 12 năm 1958, nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp III Chu văn An (Hà Nội), Bác giảng giải: Trường học của ta là trường học xã hội chủ nghĩa. Trường học xã hội chủ nghĩa là thế nào? Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: 10 download by : skknchat@gmail.com - Học đi với lao động - Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm Từ khi có Điều lệ nhà trường, trong các Điều lệ đều có những qui định về hoạt động giáo dục giá trị sống. Tại điều 7, Điều lệ THPT tháng 6 năm 1976 ghi “Việc giảng dạy và giáo dục được thông qua các hoạt động: Giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể. Các mặt hoạt động đó phải được cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất”.[9, Điều 7] Khoản 3, Điều lệ này cũng nhấn mạnh “Hoạt động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao gồm các hoạt động văn hóa, chính trị xã hội của Đoàn và Đội và các hoạt động ngoại khóa về khoa học kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường và địa phương.

Khoản 3, điều 10, Điều lệ trường THPT tháng 4 năm 1979 viết: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia với mức độ thích hợp là nhằm củng cố tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng. Ngoài các các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm các hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ để công tác giáo dục thêm phong phú”.[10, khoản 3, điều 10] Điều lệ trường THPT có nhiều cấp học năm 2011 ghi: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”.[12, tr12] Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục; yêu cầu, đòi hỏi của thực tế, nhiều tác giả đã nghiên cứu về hoạt động GDGTS ở các bậc học. 11 download by : skknchat@gmail.com Nhìn chung, qua tìm hiểu chúng ta thấy có nhiều tác giả và bài viết về giáo dục giá trị và giáo dục giá trị sống, quản lý giáo dục GTS như : + Nguyễn Thanh Bình (2014). Giáo dục tích hợp một số giá trị và kỹ năng sống cho học sinh trung học.

Mã số đề tài: SPHN 13-286. + Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy (2012). Tài liệu tập huấn về kỹ năng sống cho hoc sinh Trung học tại các chương trình phát triển vùng của Tầm nhìn thế giới tại Việt Nam. Những giá trị sống cho tuổi trẻ.

NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2009. + Lục Thị Nga , Nguyễn Thanh Bình (2011). Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và giao tiếp ứng xử trong quản lý.

+ Mô đun : Giáo dục giá trị (2014 ). Bộ giáo dục và đào tạo. Một số nghiên cứu tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu về kinh nghiệm thực tiễn tổ chức hoạt động GDGTS ở trường phổ thông trong các luận văn mà tác giả là những cán bộ quản lý của các trường phổ thông. Cùng với đòi hỏi nâng cao chất lượng trong nhà trường phổ thông, giáo dục giá trị sống (GTS) cho học sinh ở nước ta hiện nay đang là yêu cầu quan trọng, một bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục.

Mục đích của giáo dục GTS là nhằm trang bị cho học sinh những GTS cơ bản, cần thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội đương đại, luôn luôn thay đổi trong điều kiện của một xã hội đang phát triển. Nội dung giáo dục GTS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy học cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau, đảm bảo cho người học tiếp cận với chương trình giáo dục GTS được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục. Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục thể hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu về giáo dục GTS. Nghiên cứu GTS và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa; từ nhiệm vụ triển khai 12 download by : skknchat@gmail.com chiến lược và đổi mới giáo dục phổ thông, từ xu thế giáo dục thế giới và từ sự phát triển của khoa học giáo dục, một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục GTS cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục GTS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục GTS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ