Tổng quan nghiên cứu
Trong cấu trúc kinh tế hiện đại, hệ thống ngân hàng thương mại giữ vị trí huyết mạch đối với nguồn vốn và sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại trong nước nắm giữ hơn 90% thị phần huy động và cho vay của toàn nền kinh tế. Năm 2016 ghi nhận sự tăng trưởng tín dụng đạt 18,71%, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống được kiểm soát ở mức 2,46% và tỷ lệ an toàn vốn bình quân đạt xấp xỉ 13%. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh gay gắt từ quá trình hội nhập quốc tế thông qua Cộng đồng Kinh tế ASEAN và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải tối ưu hóa năng lực quản trị nguồn lực.
Các thước đo tài chính truyền thống như lợi nhuận trên tổng tài sản hay lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chỉ phản ánh kết quả kế toán tĩnh trong ngắn hạn và mang tính một chiều. Để giải quyết vấn đề này, luận văn tập trung đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 6 năm từ năm 2011 đến năm 2016. Đề tài áp dụng phương pháp phân tích phi tham số kết hợp chỉ số năng suất Malmquist và mô hình hồi quy Tobit nhằm định lượng chính xác mức độ hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí và tác động của các nhân tố đặc thù cũng như vĩ mô. Kết quả nghiên cứu xác định điểm hiệu quả kỹ thuật bình quân toàn hệ thống đạt 0,885, phản ánh mức độ lãng phí nguồn lực đầu vào là 11,5%, đồng thời cung cấp các căn cứ thực nghiệm quan trọng cho công tác tái cơ cấu ngành ngân hàng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết giới hạn khả năng sản xuất do Farrell đề xuất năm 1957 và được phát triển thành mô hình phân tích bao dữ liệu bởi Charnes, Cooper và Rhodes năm 1978. Khung phân tích này chia hiệu quả kinh tế thành hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc tối đa hóa sản lượng đầu ra từ một tập hợp các yếu tố đầu vào nhất định, hoặc tối thiểu hóa đầu vào để đạt được mức đầu ra xác định trước. Trong điều kiện quy mô thay đổi theo mô hình của Banker, Charnes và Cooper năm 1984, hiệu quả kỹ thuật được phân tách thành hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô.
Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng lý thuyết chỉ số năng suất tổng hợp Malmquist của Fare và các cộng sự năm 1994. Thước đo này cho phép phân rã sự biến động năng suất nhân tố tổng hợp thành hai thành phần động: mức thay đổi tiến bộ công nghệ và mức thay đổi hiệu quả kỹ thuật. Ngoài ra, lý thuyết tính kinh tế theo quy mô và lý thuyết cơ cấu sở hữu được vận dụng để làm rõ cơ chế tác động của quy mô tài sản, mức độ tham gia của sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và các thương vụ mua bán sáp nhập đến hiệu quả vận hành của các định chế tài chính.
Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 28 ngân hàng thương mại hoạt động liên tục tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2016, tạo thành một bộ dữ liệu bảng gồm 168 quan sát. Mẫu nghiên cứu gồm 3 ngân hàng thương mại nhà nước, 23 ngân hàng thương mại cổ phần và 2 ngân hàng liên doanh. Quy trình chọn mẫu theo phương pháp có chủ đích, loại trừ các đơn vị thiếu tính đồng nhất hoặc gián đoạn số liệu kiểm toán. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán, báo cáo thường niên của các tổ chức tín dụng, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và số liệu tăng trưởng GDP thực tế từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Quy trình phân tích thực nghiệm được triển khai qua hai bước khoa học. Bước đầu tiên sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu phi tham số với phần mềm DEAP phiên bản 2.1 nhằm đo lường chỉ số Malmquist. DEA được lựa chọn vì không bắt buộc phải định dạng hàm sản xuất cứng nhắc, cho phép xử lý đồng thời mô hình đa đầu vào và đa đầu ra theo phương pháp tiếp cận tạo ra lợi nhuận của Lee và Kim năm 2013. Bốn biến đầu vào gồm: chi phí lãi, chi phí hoạt động dịch vụ, chi phí hoạt động và chi phí dự phòng rủi ro; hai biến đầu ra gồm: thu nhập lãi và thu nhập hoạt động dịch vụ. Bước thứ hai sử dụng mô hình hồi quy Tobit với 140 quan sát để xử lý biến phụ thuộc bị chặn trong khoảng từ 0 đến 1, giúp ước lượng chính xác mức độ tác động của quy mô tài sản, rủi ro tín dụng, hình thức sở hữu, chu kỳ kinh tế và hoạt động sáp nhập.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích định lượng giai đoạn 2011–2016 mang lại bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng vận hành của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam:
Thứ nhất, điểm hiệu quả kỹ thuật bình quân của toàn bộ 28 ngân hàng đạt 0,885, tương ứng với mức phi hiệu quả là 11,5%. Xu hướng hiệu quả kỹ thuật suy giảm theo thời gian, từ mức đỉnh 0,903 vào năm 2011 giảm xuống 0,854 vào năm 2014 và chỉ phục hồi nhẹ lên 0,870 vào năm 2016.
Thứ hai, có sự phân hóa sâu sắc giữa các nhóm sở hữu. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước đạt hiệu quả kỹ thuật cao nhất với điểm số tuyệt đối xấp xỉ 1,000 qua các năm. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt mức bình quân 0,880 với tỷ lệ lãng phí nguồn lực 12%. Nhóm ngân hàng liên doanh ghi nhận mức thấp nhất là 0,756, tương ứng tỷ lệ phi hiệu quả lên tới 24,4%.
Thứ ba, hiệu quả chi phí toàn hệ thống ở mức rất thấp, chỉ đạt bình quân 48,4%, đồng nghĩa mức phi hiệu quả chi phí lên tới 51,6%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phi hiệu quả phân bổ nguồn lực chiếm 49,2%, trong khi phi hiệu quả kỹ thuật thuần chỉ chiếm 7,7%. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức độ lãng phí chi phí trên 85% như Ngân hàng Phương Đông đạt 12,7% hiệu quả và Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chỉ đạt 7,6%.
Thứ tư, chỉ số thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp bình quân đạt 0,995, cho thấy năng suất chung sụt giảm 0,5% mỗi năm. Mặc dù chỉ số thay đổi công nghệ đạt mức tăng trưởng dương 1,008 (tăng 0,8%), sự sụt giảm của hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô đã kéo giảm năng suất chung.
Thứ năm, kết quả hồi quy Tobit khẳng định quy mô tài sản tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê cao đến hiệu quả hoạt động với hệ số hồi quy 0,5673.
Thảo luận kết quả
Bản chất hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn khảo sát vẫn phụ thuộc nặng nề vào tín dụng truyền thống. Thu nhập lãi bình quân đạt 10.674,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng áp đảo so với thu nhập từ dịch vụ chỉ đạt 659,8 tỷ đồng. Sự chênh lệch này khiến các ngân hàng chịu áp lực chi phí huy động vốn và trích lập dự phòng rủi ro rất lớn, làm suy giảm hiệu quả chi phí phân bổ.
Kết quả nghiên cứu này tương thích với các kết luận thực nghiệm của Lee và Kim năm 2013 tại thị trường Hàn Quốc và nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga cùng Trần Phương Thanh năm 2017 tại Việt Nam. Việc nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì hiệu quả kỹ thuật vượt trội được giải thích bởi lợi thế quy mô tài sản vượt trội và mạng lưới khách hàng sâu rộng. Tuy nhiên, các thương vụ sáp nhập trong giai đoạn 2011–2015 chưa thể tạo ra bước nhảy vọt về năng suất ngay lập tức do chi phí xử lý nợ xấu và tái cấu trúc bộ máy trong ngắn hạn.
Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ đường thể hiện diễn biến chỉ số Malmquist qua các năm và biểu đồ cột so sánh hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô giữa các nhóm sở hữu để làm nổi bật sự chênh lệch phân bổ nguồn lực.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả định lượng, các giải pháp mang tính chiến lược được đề xuất theo từng nhóm chủ thể thực hiện:
Thứ nhất, tái cấu trúc chi phí hoạt động và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Ban điều hành các ngân hàng thương mại cổ phần cần rà soát lại cơ cấu chi phí, đặt mục tiêu cắt giảm 10% đến 15% chi phí vận hành thông qua tối ưu hóa mạng lưới chi nhánh và tự động hóa quy trình. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2018–2020 nhằm nâng mức hiệu quả chi phí toàn hệ thống từ 48,4% lên mức tối thiểu 65%.
Thứ hai, khai thác triệt để tính kinh tế nhờ quy mô sau các thương vụ mua bán sáp nhập. Các ngân hàng sau hợp nhất cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn hóa hệ thống công nghệ thông tin, thanh lý các tài sản kém hiệu quả và tái cơ cấu danh mục cho vay. Ban lãnh đạo các định chế tài chính này cần hoàn thành việc tích hợp dữ liệu trong vòng 12 đến 24 tháng nhằm giảm thiểu ít nhất 30% chi phí quản trị chồng chéo.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và đa dạng hóa nguồn thu phi tín dụng. Khối công nghệ và khối phát triển kinh doanh tại các ngân hàng cần tập trung mở rộng dịch vụ ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt và các sản phẩm tài chính bán lẻ. Mục tiêu trong giai đoạn 2018–2022 là nâng tỷ trọng thu ngoài lãi lên mức tối thiểu 20% tổng thu nhập hoạt động, giúp giảm bớt rủi ro phụ thuộc vào thu nhập lãi.
Thứ tư, hoàn thiện khung khổ pháp lý và cơ chế giám sát an toàn vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần duy trì cơ chế thanh tra giám sát chặt chẽ, đẩy mạnh vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong việc xử lý dứt điểm nợ xấu, đồng thời thúc đẩy lộ trình tuân thủ chuẩn mực an toàn vốn Basel II nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn toàn ngành luôn duy trì trên mức 10%.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:
Nhóm thứ nhất là ban điều hành và các nhà quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp khung phương pháp lượng hóa điểm yếu trong phân bổ chi phí và định vị năng lực cạnh tranh của từng đơn vị so với chuẩn chung toàn ngành.
Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Dữ liệu thực nghiệm về 28 ngân hàng giai đoạn 2011–2016 là căn cứ định lượng đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả chính sách tái cơ cấu, xử lý sở hữu chéo và thúc đẩy các đợt sáp nhập lành mạnh.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng. Tài liệu này đóng vai trò như một bài mẫu hoàn chỉnh về cách kết hợp phương pháp DEA Malmquist hai giai đoạn với mô hình hồi quy Tobit cho dữ liệu bảng kinh tế lượng.
Nhóm thứ tư là các chuyên gia phân tích đầu tư và chuyên viên thẩm định định giá tại các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư. Mô hình phân tích hiệu quả biên giúp nhà đầu tư nhìn thấu hiệu quả sử dụng chi phí nội tại của các ngân hàng niêm yết thay vì chỉ dựa vào các chỉ tiêu bề nổi như lợi nhuận ròng.
Câu hỏi thường gặp
Phương pháp phân tích bao dữ liệu và chỉ số Malmquist có ưu điểm gì vượt trội so với các chỉ số kế toán truyền thống?
Các chỉ số như tỷ suất sinh lời trên tài sản hay trên vốn chủ sở hữu chỉ đo lường kết quả một chiều và dễ bị sai lệch bởi các thủ thuật kế toán. Phương pháp DEA kết hợp chỉ số Malmquist cho phép xử lý đồng thời 4 yếu tố đầu vào và 2 yếu tố đầu ra, đồng thời bóc tách rành mạch mức thay đổi công nghệ đạt 1,008 và sự sụt giảm hiệu quả kỹ thuật qua từng năm.
Tại sao nhóm ngân hàng thương mại nhà nước lại đạt hiệu quả kỹ thuật cao nhất trong mẫu nghiên cứu?
Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước như Vietcombank, VietinBank và BIDV đạt điểm hiệu quả kỹ thuật tiệm cận 1,000 nhờ sở hữu quy mô tài sản khổng lồ, mạng lưới hoạt động sâu rộng và thị phần huy động trên 45%. Ưu thế về quy mô cho phép các ngân hàng này tối ưu hóa việc biến đổi chi phí đầu vào thành doanh thu lãi một cách vượt trội.
Yếu tố nào là nguyên nhân chính khiến hiệu quả chi phí của toàn hệ thống chỉ đạt mức 48,4%?
Nguyên nhân trọng yếu nằm ở phi hiệu quả phân bổ nguồn lực lên tới 49,2%, trong khi phi hiệu quả kỹ thuật chỉ chiếm 7,7%. Sự mất cân đối này phát sinh do các ngân hàng tập trung quá mức vào hoạt động tín dụng truyền thống với thu nhập lãi đạt hơn 10.674 tỷ đồng, dẫn đến chi phí huy động và chi phí trích lập dự phòng rủi ro tăng cao.
Hoạt động mua bán và sáp nhập có ngay lập tức cải thiện năng lực hoạt động của các ngân hàng thương mại không?
Kết quả hồi quy Tobit cho thấy hoạt động mua bán sáp nhập có tác động đáng kể nhưng không tự động làm tăng hiệu quả trong ngắn hạn. Các ngân hàng sau sáp nhập trong giai đoạn 2011–2015 phải gánh chịu chi phí xử lý nợ xấu tồn đọng và chi phí tái cấu trúc nhân sự, đòi hỏi lộ trình tối thiểu 2 đến 3 năm mới phát huy tính kinh tế quy mô.
Quy mô tổng tài sản có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ hiệu quả của các ngân hàng tại Việt Nam?
Mô hình thực nghiệm chỉ ra hệ số quy mô tài sản đạt 0,5673 có ý nghĩa thống kê dương. Do đa số các ngân hàng Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ và vừa so với khu vực, việc mở rộng quy mô tài sản hợp lý giúp đa dạng hóa danh mục tín dụng, giảm chi phí biên trên mỗi đơn vị giao dịch và nâng cao hiệu quả kỹ thuật tổng thể.
Kết luận
Nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện mục tiêu đo lường hiệu quả hoạt động và xác định các nhân tố ảnh hưởng tại 28 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011–2016:
- Xác lập điểm hiệu quả kỹ thuật bình quân toàn hệ thống đạt 0,885, chỉ ra mức độ lãng phí nguồn lực đầu vào là 11,5% với xu hướng giảm dần qua các năm.
- Chứng minh sự vượt trội về hiệu quả kỹ thuật của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước so với nhóm ngân hàng cổ phần và nhóm ngân hàng liên doanh.
- Chỉ ra mức độ phi hiệu quả chi phí nghiêm trọng lên tới 51,6%, chủ yếu bắt nguồn từ khâu phân bổ nguồn lực chưa hợp lý giữa chi phí hoạt động và trích lập dự phòng.
- Khẳng định tiến bộ công nghệ với chỉ số thay đổi đạt 1,008 là động lực chính duy trì năng suất nhân tố tổng hợp của hệ thống ngân hàng.
- Lượng hóa tác động thuận chiều có ý nghĩa của quy mô tài sản với hệ số 0,5673 cùng vai trò quan trọng của rủi ro tín dụng và chu kỳ kinh tế đối với hiệu quả vận hành.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2018 trở đi, các tổ chức tín dụng cần đẩy mạnh đầu tư công nghệ số, tái phân bổ nguồn vốn và kiểm soát chất lượng tín dụng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển an toàn, bền vững.