Luận văn thạc sĩ hiệu quả cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội việt nam chi nhánh tỉnh bắc ninh

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu hiệu quả cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội việt nam chi nhánh tỉnh bắc ninh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Tài chính ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Cho Vay Hộ Nghèo Tại Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Bắc Ninh

Hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Bắc Ninh là một chủ đề quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo. Ngân hàng này đóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp nguồn vốn cho các hộ nghèo, giúp họ cải thiện đời sống và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình cho vay này vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết.

1.1. Khái Niệm Về Cho Vay Hộ Nghèo Tại NHCSXH

Cho vay hộ nghèo tại NHCSXH là hình thức cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ gia đình thuộc diện nghèo, nhằm giúp họ có nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Chương trình này không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Cho Vay Hộ Nghèo

Chương trình cho vay hộ nghèo không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó giúp giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, tạo cơ hội cho các hộ nghèo tiếp cận với các dịch vụ tài chính, từ đó nâng cao khả năng tự lực và phát triển bền vững.

II. Những Thách Thức Trong Hiệu Quả Cho Vay Hộ Nghèo Tại Bắc Ninh

Mặc dù NHCSXH Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu trong việc cho vay hộ nghèo, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như nợ quá hạn, chất lượng tín dụng và khả năng tiếp cận vốn vẫn đang là những trở ngại lớn.

2.1. Vấn Đề Nợ Quá Hạn Trong Cho Vay Hộ Nghèo

Nợ quá hạn là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay hộ nghèo. Tỷ lệ nợ quá hạn cao không chỉ làm giảm khả năng cho vay mà còn ảnh hưởng đến uy tín của NHCSXH.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Cận Vốn

Nhiều hộ nghèo vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay do thiếu thông tin, hiểu biết về quy trình vay vốn và các điều kiện cần thiết. Điều này dẫn đến việc không phát huy được hiệu quả của chương trình cho vay.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Cho Vay Hộ Nghèo Tại NHCSXH Bắc Ninh

Để nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo, NHCSXH Bắc Ninh cần áp dụng một số phương pháp và giải pháp cụ thể. Những biện pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng cho vay mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nghèo.

3.1. Tăng Cường Đào Tạo Và Hỗ Trợ Tư Vấn

Đào tạo và tư vấn cho các hộ nghèo về quy trình vay vốn, cách sử dụng vốn hiệu quả là rất cần thiết. Việc này giúp họ có kiến thức và kỹ năng cần thiết để quản lý tài chính và phát triển sản xuất.

3.2. Cải Thiện Quy Trình Vay Vốn

Cải thiện quy trình vay vốn, giảm thiểu thủ tục hành chính sẽ giúp các hộ nghèo dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn. Điều này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Bắc Ninh

Nghiên cứu về hiệu quả cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Bắc Ninh đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần có những đánh giá và điều chỉnh để đảm bảo tính bền vững của chương trình.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Chương Trình Cho Vay

Chương trình cho vay hộ nghèo đã giúp hàng ngàn hộ gia đình cải thiện thu nhập và thoát nghèo. Những kết quả này cần được ghi nhận và phát huy hơn nữa trong thời gian tới.

4.2. Đánh Giá Những Hạn Chế Còn Tồn Tại

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng chương trình vẫn còn tồn tại một số hạn chế như tỷ lệ nợ quá hạn cao và chất lượng tín dụng chưa đồng đều. Cần có các biện pháp khắc phục kịp thời để nâng cao hiệu quả.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Chương Trình Cho Vay Hộ Nghèo

Chương trình cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Bắc Ninh đã và đang đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ và sự hỗ trợ từ nhiều phía.

5.1. Tương Lai Của Chương Trình Cho Vay Hộ Nghèo

Trong tương lai, chương trình cần được mở rộng và cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các hộ nghèo. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả mà còn tạo ra sự công bằng trong tiếp cận nguồn lực.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các giải pháp cải thiện quy trình cho vay, tăng cường hỗ trợ tư vấn và đào tạo cho các hộ nghèo. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả cho vay và đảm bảo tính bền vững của chương trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ hiệu quả cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội việt nam chi nhánh tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Khái quát về cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam 1. Khái niệm về hộ nghèo: Tháng 9/1993, tại Băng Cốc Thái Lan ESCAP tổ chức hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo đã nêu ra định nghĩa về đói nghèo như sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Theo khái niệm này thì mức độ đói nghèo ở các nước khác nhau là khác nhau.

Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tếxã hội và mức thu nhập của người dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Ngoài ra còn có khái niệm khác về đói nghèo như sau : “Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia”.

Ở Việt Nam, theo trang web Thư viện Học liệu mở Việt Nam VOER (Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo,2016) nêu rõ: “ Nghèo được chia thành ba mức: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. Thứ nhất là nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. Thứ hai là nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống 9 dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. Thứ ba là nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.” - Khái niệm về hộ nghèo: “Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.

Sự cần thiết cho vay đối với hộ nghèo: Không thể phủ nhận tình hình kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng nhưng so với thế giới thì tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam đánh giá là còn chậm và khả năng tụt hậu cao. Finn Tarp- Giám đốc Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển thế giới cho biết kết quả điều tra tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo của năm 2016 là 16,2% trong khi 2 năm trước đó con số này là 12,9%. Nói cách khác, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam gia tăng trong những năm gần đây. Theo tìm hiểu trên website Thư viện học liệu mở Việt Nam VOER, khi bàn về vấn đề “ Sự cần thiết phải hỗ trợ vốn cho người nghèo” thì có nêu khái quát về tình trạng nghèo đói ở Việt Nam như sau: “ Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tuy nhiên cũng cần thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh.

Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp danh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo. Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp danh với ngưỡng nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo.

Tính vụ mùa trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo.Đa số người nghèo sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu 10 Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết(bão, lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sinh sống. Đặc biệt, sự kếm phát triển về cơ sở hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác.Đói nghèo là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn với 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn.Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện đời sống không đều. Đa số người nghèo thành thị đều làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập bấp bênh.ác vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống, có tỷ lệ nghèo đói khá cao. Có tới 64% số người nghèo tập chung tại các vùng núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung.

Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở kém phát triển, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên.Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lơi, số người cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao khoảng 1- 1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn rất lớn.” Qua đó, chúng ta có thể kết luận về sự cần thiết của việc cho vay đối với hộ nghèo như sau: “Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trườngvà tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển; đặc biệt đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu tình trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt. Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển. Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Tóm lại, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý do của 11 sự đói nghèo có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về XĐGN thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo được.

Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo”. Tiêu chí xác định hộ nghèo: Từ năm 1993 đến nay tại Việt Nam đã 6 lần thay đổi mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 thực hiện theo Quyết định 09/2011/QĐTTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015 quy định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống.

- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. Ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg “Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”quy định như sau: “- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ đủ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân trên 700.000 đồng/người/tháng đến 1.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ đủ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống, hoặc có thu nhập bình quân trên 900.000 đồng/người/tháng đến 1.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

12 - Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân trên 700.000 đồng/người/tháng đến 1.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt dưới3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ cận nghèo ởthành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Khái quát về cho vay hộ nghèo: Theo nghị định chính phủ về về hoạt động tín dụng đối với người nghèo thì cho vay hộ nghèo là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước huy động để cho người nghèo vay ưu đãi phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Đây là khoản tín dụng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định tùy theo từng nguồn vốn vay.

Việc cho vay hộ nghèo của NHCSXH gồm các nội dung sau: Về mục đích cho vay: Mục tiêu vi mô làgiúp hộ nghèo có thể có thêm một phần kinh tế để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống cho gia đình và bản thân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ