Chương I : Hiện tượng song trùng và Gabriel García Máquez 1.1 Biểu tượng song trùng trong văn học 1.1 Khái niệm song trùng Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên y như thật. Nhưng hình tượng nghệ thuật cũng là một hiện tượng đầy tính ước lệ. Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng.
Theo nghĩa rộng biểu tượng “là đặc trưng phản ánh đời sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người, cuộc đời ”[20 /24]. Như vậy biểu tượng nghệ thuật là những kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa, là kết quả của sự mã hóa những xúc cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó là những hình ảnh cụ thể, cảm tính nhưng đầy sức gợi, mở ra một trường liên tưởng thú vị cho sự tiếp nhận của người đọc.
Từ đó những hình ảnh cặp đôi của các con vật trong những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật của nhân loại từ xa xưa với những ý nghĩa độc đáo được xem là biểu tượng của song trùng. Song trùng tồn tại trong hình ảnh “các con vật rắn, rồng, chim, sư tử, gấu…thành từng đôi. Đấy không phải là mối quan tâm đơn giản về chuyên trang trí, cũng không phải là một ảnh huởng nào đó của đạo Mani. Tất cả các con vật được thể hiện đều có một tính đối cực kép, tốt lành và gây hại, được chỉ rõ trong các mục từ tương ứng nói về chúng.
Rất có thể đây là tính lưỡng diện của vật thể sống, được gợi lên bằng khắc vẽ song trùng các hình ảnh. Chẳng hạn con sư tử, với sức mạnh của nó, cùng lúc là biểu tượng của quyền lực tối cao và của thèm muốn ngấu nghiến, dù đó là thèm muốn của công lí phục thù, hay của kẻ độc tài khát máu, của ý chí quyền lực. Cũng như vậy, những dải băng hay những vòng bằng cây lá quấn quanh một nhân vật, nếu là vòng khép chặt, là biểu tượng của sự tù hãm trong khó khăn và tai hoạ ; còn nếu mở ra thì lại là biểu tượng sự giải thoát. Đôi khi sự song trùng chỉ càng khiến cho ý nghĩa của một trong hai cực mạnh hơn, nhân đôi lên [17/826].
Như vậy song trùng (the double) trước hết là biểu tượng về các con vật, sự vật tồn tại theo kiểu cặp đôi, thể hiện ý nghĩa đối cực kép, tốt lành và gây hại, lưỡng diện. Không chỉ xuất hiện trong hình ảnh của các con vật, sự vật theo nguyên lí cặp đôi, lưỡng diện, song trùng còn được thể hiện ở cả con người. “Các tôn giáo truyền thống thường quan niệm linh hồn là bản trùng của chủ thể sống, có thể tách rời thể xác khi chủ thể chết, hoặc trong giấc mộng hoặc do một thao tác ma thuật, và có thể thác sinh vào chính thể xác đó hay vào một thể xác khác. Như vậy, hình ảnh con người tự hình dung về mình là một hình ảnh nhân đôi.
Mặt khác, khoa liệu pháp tâm lí có biết đến những hiện tượng nhị hoá cuồng loạn hay phân lập nhân cách. Khoa liệu pháp tâm lí coi những rối loạn của bản ngã như những biểu tượng. Chúng bộc lộ một sự thụt lùi trở lại những giai đoạn trước và nguyên thuỷ, có thể coi như là cái nền bình thường của tâm tính hiện tại của người bệnh, theo kiểu như các địa tầng. Các địa tầng ấy có thể được phơi bày ra bằng những dấu hiệu thoái triển bệnh hoạn, bằng các phương pháp thăm dò, bằng lối nhị hoá nhân cách của kịch chữa bệnh tâm thần (psychodrame) chẳng hạn, bằng các hoạt động tâm lí hoặc hoat đông mệnh danh là huyền bí được điều khiển một cách nguy hiểm.
Một sự nhị hoá còn diễn ra trong nhận thức và ý thức về cá nhân, giữa cái tôi nhận thức và hữu thức với cái bản ngã đươc nhận thức và vô thức. Cái bản ngã trong chiều sâu, chứ không phải trong những tri giác phù du, có thể xuất hiện như một mẫu gốc vĩnh cửu và theo những phân tích của Henry Corbin xuất phát từ những văn bản của nhà Soufi Sohrawardi, như là Con người ánh sáng, cái Bản ngã ánh sáng, người Dẫn đường của riêng ta, vị thiên thần khởi xướng, nhân chứng nhà Trời, Tự nhiên hoàn mỹ, người song sinh tuyệt diệu: Kẻ nào tự nhận thức được bản thân, sẽ nhận thức được Chúa Trời của mình. Ở đây thuyết ngô đạo nhuộm màu thuyết thần hiệp Hồi giáo: đối với mỗi linh hồn, các Thánh linh là những song trùng trên trời. Cái bản trùng ấy ra sức kích thích trong kẻ thần hiệp hình ảnh của bản thân anh ta, hình ảnh của cá nhân anh ta.
Đấy là điều mà đạo Kitô, theo một cách nào đó, diễn dịch bằng hình ảnh Thiên Thần Hộ Mệnh” [17/ 826]. Tôn giáo truyền thống hình dung con người là một hình ảnh tự nhân đôi gồm hai mặt tồn tại, gắn kết không thể tách rời nhau: linh hồn và thể xác. Trong đó “linh hồn là bản trùng của chủ thể sống, có thể tách rời thể xác khi chủ thể chết, hoặc trong giấc mộng hoặc do một thao tác ma thuật, và có thể thác sinh vào chính thể xác đó hay vào một thể xác khác” [17/826]. Ngoài ra song trùng còn được đề cập trong trường hợp “hiện tượng nhị hoá cuồng loạn hay phân lập nhân cách”.
Sự “nhị hoá” này diễn ra “trong nhận thức và ý thức về cá nhân, giữa cái tôi nhận thức và hữu thức với cái bản ngã được nhận thức và vô thức”. Có nghĩa trong cùng một con người nhưng lại tồn tại hai kiểu tính cách mâu thuẫn, trái ngược nhau, hai mặt của sự mâu thuẫn. Dường như có hai con người đang đấu tranh, nhưng lại cùng nhau tồn tại bên trong một chủ thể. Sự mâu thuẫn này có thể được ý thức rõ ràng, cũng có thể là sự mâu thuẫn giữa phần ý thức và vô thức.
Mặc dù xuất hiện từ rất xưa và khá phổ biến nhưng ý nghĩa của nó ở mỗi nền văn hoá thường khác xa nhau, “ theo quan niệm của Chủ nghĩa lãng mạn Đức thì việc gặp người song trùng của ta có thể là người bổ sung nhưng thông thường hơn là đối thủ khiêu chiến với ta” [17/826]. Trong những truyền thuyết, câu chuyện xưa, họ thường thể hiện việc gặp song trùng của mình là một biến cố tai hại, đôi khi là dấu hiệu của cái chết. Truyện ngắn “Cái bóng” của Andersen là một minh hoạ sinh động cho sự xuất hiện hung dữ của song trùng. Đối với người Do Thái gặp song trùng của mình không phải là một biến cố tai hại, cái chết mà trái lại là một bằng chứng, chứng tỏ rằng người nào được gặp nó là đã trở thành một bậc tiên tri.
Gershom Scholem (1897-1982), một học giả nổi tiếng, chuyên khảo cứu về sự huyền bí của tôn giáo người Do Thái qua giai thoại truyền thống trong kinh Talmud kể chuyện một người đàn ông trong lúc đi tìm Thượng đế đã gặp chính mình đã khẳng định như thế. Từ câu chuyện này năm 1864, Dante Gabriel Rossetti đã vẽ bức tranh lạ lùng “How They Met Themselves ?” (Họ gặp chính mình như thế nào ?). Bức tranh là hình ảnh hai người tình trong rừng chiều, mỗi người gặp lại chính mình đầy huyền ảo mang đầy màu sắc linh thiêng mà không hề cho thấy rằng đây sẽ là dấu hiệu của bất hạnh và oan nghiệt. Khá tương đồng với Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Borges Jorge Louis cũng nhấn mạnh yếu tố giống nhau, tồn tại theo cặp đôi là cơ sở quan trọng “gợi hứng” của song trùng.
Nó thể hiện phần bản ngã của chúng ta. Song trùng “được gợi ý hay gợi hứng bởi những tấm gương, bởi mặt nước phẳng lặng và những người sinh đôi cái ý niệm về bản ngã song trùng rất phổ biến ở nhiều xứ. Rất có thể những câu nói như câu: “Một người bạn là một bản ngã khác của tôi” của Pythagoras, và câu “Hãy tự biết mình” của Plato, đã được gợi hứng từ ý niệm này. Ở Đức, nó được gọi là Doppelgänger; ở Tô-cách-lan, gọi là fetch, vì nó đến để mang người ta về cõi chết….
Đối với người Do-thái, trái lại, sự xuất hiện của bản ngã song trùng không phải là điềm báo của sự chết, mà lại là một bằng chứng tỏ rằng người nào được gặp nó là đã trở thành một bậc tiên tri” [3/30]. Như vậy song trùng là một biểu tượng xuất hiện từ khá sớm trong văn hóa và văn học nhân loại. Nó được gợi hứng từ sự giống nhau, lặp lại của những cặp đôi sự vật với những điểm tương đồng và dị biệt nhau. Biểu tượng song trùng không chỉ xuất hiện trong hình ảnh các con vật mà còn ở cả con người qua sự phân đôi của hồn và xác, bóng và hình…Đó là một cái tôi khác vừa giống ta, vừa không phải là ta đang cùng tồn tại.
Nó thể hiện phần đối nghịch, sự bổ sung cho chủ thể. Qua đó thể hiện phần bản ngã của con người.2 Biểu tượng song trùng trong một số tác phẩm văn học Trước khi xuất hiện chữ viết, song trùng đã được người xưa sớm quan tâm, những tác phẩm điêu khắc, những bức tranh tuyệt mĩ đã thể hiện tính lưỡng diện, đối cực nhau của các con vật. Từ khi chữ viết xuất hiện, tiếp nối mạch chảy của văn hoá nhân loại trước đó, các nhà văn đã học hỏi, vận dụng biểu tượng song trùng và sáng tạo nên những tác phẩm vô cùng độc đáo. Đó là câu chuyện đậm màu sắc huyền ảo“Cái bóng” của Andersen; các sáng tác của Dostoievski như “Kẻ song trùng”, “Tội ác và hình phạt”, “Anh em nhà Karamazov”… và gần đây là “Pháo Đài Trắng” của Orhan Pamuk.
Tất cả đã góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu, phát hiện thế giới tinh thần phong phú của con người cho chúng ta thấy thế giới ấy không hề đơn giản chút nào. Nó là một tiểu vũ trụ đầy phức tạp và thú vị, luôn đấu tranh và tự hỏi : “Ta là ai?”.