Chương 1. Truyện tối trăng mưa và Ueda Akinari trong dòng chảy truyện truyền kỳ Đông Á Chương 2. Hình tượng Thiền sư trong Truyện tối trăng mưa nhìn từ triết lý Phật giáo Chương 3. Hình tượng hồn ma – thực và ảo trong Truyện tối trăng mưa.
TRUYỆN TỐI TRĂNG MƯA VÀ UEDA AKINARI TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN TRUYỀN KỲ ĐÔNG Á 1. Vài nét về Ueda Akinari và sự ra đời của Truyện tối trăng mưa trong bối cảnh thời đại Edo – Nhật Bản 1. Sự chuyển mình thời đại từ văn hoá võ sĩ sang văn hoá thị dân và những ảnh hưởng đối với cuộc đời Ueda Akinari Trong bối cảnh xã hội lịch sử thời đại Edo với nhiều biến chuyển, dưới sự cai trị của chế độ Mạc Phủ Tokugawa chính trị, xã hội, đời sống dân chúng đã dẫn đến những đổi thay theo hướng phát triển và hưng thịnh. Các tầng lớp buôn bán trở nên giàu có, nắm trong tay quyền hành về kinh tế, vì vậy họ có tiếng nói, chỗ đứng trong xã hội.
Nhưng đến giai đoạn cuối chế độ Mạc Phủ, chính trị cùng đời sống xã hội nhiều biến chuyển khi sự nắm quyền của tầng lớp cai trị bị lung lay bởi các thương nhân giàu có nắm mọi quyền hành. Đời sống nhân dân đói nghèo, nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân. Tuy nhiên, vấn đề văn hoá, giáo dục giai đoạn này lại phát triển nở rộ. Trước đây, chỉ có tầng lớp cấp trên như võ sĩ, tăng lữ mới có quyền đi học, nhưng đến giai đoạn này trình độ giáo dục cho thứ dân cũng được phát triển rộng rãi.Từ đó, có sự chuyển mình từ thời đại văn hoá võ sĩ sang văn hoá thị dân.
Cuối thời Edo, các nhà văn vốn xuất thân từ giới võ sĩ chuyên viết về những chủ đề cảm tính, dễ hiểu, các tác phẩm đi vào đời sống đời thường con người như tiền tài, danh vọng, sắc tình, … vì vậy văn học trở nên đại chúng hoá, có lực lượng độc giả đông đảo. Cùng với đó là sự xuất hiện của văn học “kẻ chợ”, vốn là người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, nhưng đem lại giá trị về mặt kinh tế cao nên có một chỗ đứng quan trọng trong xã hội. Họ yêu cầu, tìm hiểu và bắt đầu tham gia sáng tác một văn chương thể hiện những suy nghĩ, sở thích, nếp sống của giai cấp mình. Thể loại truyện ngắn theo kiểu phóng đãng, câu chuyện tình lịch sử, nghệ thuật kịch Kabuki, các loại tranh và bản in gỗ màu cũng được phát triển.
Từ đó, hình thành những thể loại văn học mới như: Yomihon, kokkeibon, gôkan, ninjôbon, …. mang đặc tính riêng biệt của loại hình văn học thứ dân. Điển hình cho giai đoạn văn chương Nhật Bản thời đại Edo là tác phẩm Ugetsu Monogatari của tác giả Ueda Akinari. Ông sinh năm 1734, là con của một kỹ nữ, bị mẹ bỏ rơi, tuy nhiên được một thương nhân nhận làm con nuôi.
Gia đình thương nhân gốc gác là Samurai nhưng vì sa sút nên chuyển qua thương mại, nên trong tác phẩm 10 của Akinari thường trực một vẻ đẹp hoài niệm quá khứ của dòng họ qua các nhân vật mà ông tạo ra. Được trưởng thành cùng nối nghiệp nhà là buôn dầu và giấy, vì vậy con người Ueda đã hình thành nên một phong thái “kẻ chợ” có tác động trực tiếp đến việc sáng tác văn chương, pha trộn yếu tố văn hoá võ sĩ và chuyển giao giữa văn hoá thị dân. Cuộc đời Ueda Akinari nhìn chung có một sự thương cảm, khi ông lần lượt chịu nhiều đau khổ, mất mát. Bốn tuổi bị mẹ ruột bỏ rơi, rồi mẹ nuôi mất trong đợt dịch đậu, người cha nuôi Ueda Mosuke cũng “ra đi”, và cả đến người vợ hiền dịu là điểm tựa, kề cận trên suốt chặng đường cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng qua đời.
Gây dựng sự nghiệp buôn bán phát triển lại chịu trận hoả hoạn khiến cơ ngơi của ông thiêu trụi. Từng học thầy thuốc, nghiên cứu Đông y chẩn mạch nhưng hoạn nạn dường như đeo bám ông khi chẩn đoán sai lầm bệnh và gây chết đứa bé gái. Từ xuất thân gốc võ sĩ, gia đình chuyển dần sang thương nhân buôn bán, đến lúc ông tận cùng khánh tận, chuyển nhà liên tiếp, không có căn nhà cố định để trú, Akinari phải sống cuộc đời lang bạt. Trong trận dịch đậu đã cướp đi tính mạng người mẹ nuôi thân yêu của ông, thì trận dịch đó cũng khiến Ueda Akinari bị di chứng tê liệt, ngón tay trở nên khó cầm bút để vẽ và viết.
Từ sự việc đó, có hai điều tác động đến cuộc đời Ueda và các tác phẩm văn chương sau này của ông. Thứ nhất, trong nạn dịch đậu khiến Akinari ngã bệnh, cha mẹ nuôi của ông đã sắm lễ cầu nguyện với vị thần của đền Kishima Inari. Sau đó ông qua khỏi, hồi phục và giữ được tính mạng. Từ đó ông có đức tin rằng vị thần ở đền Kishima Inari đã cứu mạng mình.
Từ sự chứng nghiệm thực tế trong cuộc đời mình, nên khi sáng tác tập truyện Truyện tối trăng mưa Ueda Akinari đã thường nhắc đến sự xuất hiện đền thờ thần Kumano trong truyện Lòng dâm của rắn hay đền Kibitsu trong truyện Cái nồi thiêng đển Kibitsu và sự cầu nguyện chứng giám, linh nghiệm của vị Thần đạo. Thứ hai, từ sự ảnh hưởng của căn bệnh đậu khiến ngón tay phải biến dạng dẫn đến Akinari đâm ra chán nản học hành, ăn chơi sa đoạ. Nhưng sự trải nghiệm trong đoạ lạc ấy lại là vốn sống hỗ trợ cho sáng tác văn chương của Ueda Akinari sau này. Sau này Ueda Akinari đã chuyển sang làm thầy thuốc.
Đây là quá trình ông được thân cận với các bậc thầy nổi tiếng như Kato Umaki và Ueda cũng là đồ đệ của 11 nhà quốc học Kamo no Mabuchi – người thầy vĩ đại về tiếng Nhật cổ. Theo suốt quá trình chiều dài lịch sử không thể phủ nhận sự ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc vào Nhật Bản. Nhưng đến thời Edo sự phát triển hệ tư tưởng Quốc học đã hình thành một xu hướng giáo dục thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa và trở lại các truyền thống quốc gia. Từ sự tiếp thu giao thoa hai nền văn hoá đó giúp Ueda Akinari thông thạo văn chương Hán lẫn thi ca Nhật Bản.
Các tác phẩm của ông đều có sự pha trộn Hán và Hoà. Như lời bình của dịch giả, biên tập Leon M. Zolbrod về tác phẩm “Ugetsu Monogatari or Tales of Moonlight and Rain: A Complete English Version of the Eighteenth-Century Japanese Collection of Tales of the Supernatural” cũng cho rằng “Akinari tried to combine the suppleness of Heian prose, the subtlety of court poetry, the solidity of classical Chinese, and the familiarity of everyday speech to create an elegant and graceful effect.” [47] Giai đoạn chuyển sang nghề thuốc và học hỏi từ các bậc cao tăng, nhà quốc học giúp Ueda Akinari hình thành phong cách sáng sống và sáng tác nghệ thuật. Trào lưu tiểu thuyết Yomihon đương thời đang phát triển thay thế cho thể loại tiểu thuyết khuôn sáo, lỗi thời trước đó.
Ueda Akinari được theo học thuốc cùng thầy Tsuga Teisho – người đầu tiên tiên phong trào lưu Yomihon, chịu sự ảnh hưởng rõ rệt của tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc. Vì vậy, Akinari được tiếp biến hơi hướng văn phong tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc và cũng là một trong những nhà tiên phong cho thể loại tiểu thuyết độc bản này. Trải qua nhiều biến cố trong đời khiến ông quay về với nghiệp văn chương. Akinari đã sáng tác thơ haikai với bút hiệu Gyoen -Ngư Yên với hai tập Ukiyo – Zoshi.
Đó là tiểu thuyết diễn tả những điều xảy ra xung quanh cuộc sống với màu sắc châm biếm cay độc như biệt hiệu Mucho Koji của Ueda ( Ý nghĩa là tính ngang như cua). Vào năm Minh Hoà thứ 5 (1768) ông đã viết nên tác phẩm Ugetsu Monogatari (Truyện tối trăng mưa) và 30 năm sau, lúc cuối đời ông đã viết tập truyện Harusame Monogatari (Truyện mưa phùn). Bao quát nội dung của hai tác phẩm là sự đan xen giữa việc sáng tác từ đề tài Nhật Bản trong quá khứ hay cùng thời đại và kết hợp thể hiện trí thức, nhân sinh quan về lịch sử, học vấn và tư tưởng của Ueda. Cả hai tác phẩm tạo nên tên tuổi của Ueda Akinari, gây được tiếng vang lớn trong văn đàn Nhật và cả thế giới.
12 Những sự kiện xảy ra trong cuộc đời Ueda Akinari từ việc chuyển mình qua các tay nghề khác nhau và cả sự sa đoạ vào lạc thú đến nghiêm túc trong sự nghiệp sáng tác nghệ thuật văn chương đều mang một dấu ấn, hình thành nên tính cách con người của ông. Đọc tác phẩm Truyện tối trăng mưa hay Truyện mưa phùn của Akinari phải hiểu rõ về những bước hành trình cuộc đời ông, sẽ giúp độc giả hình dung cụ thể câu chuyện, và hiểu rõ về những gì mà tác giả thể hiện, phán ánh trong tác phẩm. Nhìn chung, mỗi sự việc xảy ra trong cuộc đời nhà văn đều được vận dụng sáng tạo vào trong tập truyện. Năm 1809, Ueda Akinari mất trong cảnh mù loà, được chôn cất tại nghĩa trang của chùa Saifukuji.Phật giáo Nhật Bản và dấu ấn trong nhân sinh quan Ueda Akinari Trong ‘Nihonshoki’ (Nhật-bản Thư Kỷ), “Phật Giáo chính thức du nhập nước Nhật vào ngày 13 tháng 10 năm 552, tức là năm thứ 13 của Hoàng Đế Kimmey (Khâm Minh), vị thiên hoàng thứ 29 của Nhật Bản.
Các nhà nghiên cứu thì cho rằng Phật giáo đã được du nhập đến Nhật Bản qua hai con đường, giai đoạn đầu (thế kỉ VI - thế kỉ VII), Phật giáo được du nhập đến Nhật Bản từ Triều Tiên; giai đoạn thứ hai (từ thế kỉ VII về sau), Phật giáo được du nhập trực tiếp vào Nhật Bản từ Trung Quốc. Năm 604 thái tử Shôtoku biên soạn hiến pháp 17 điều là bằng chứng về sự phát triển Phật giáo trở thành quốc giáo ở Nhật Bản. Cũng trong công trình “Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận” của Kimura Taiken, Phật giáo Nhật Bản không phải du nhập trực tiếp từ Ấn Độ mà hoàn toàn từ Trung Quốc. Tuy nhiên, có hai điều bất đồng với Phật giáo Trung Quốc.
“Thứ nhất phát huy tính Đại thừa, coi nhẹ phần ẩn dật mà thiên trọng phần hoạt động, coi nhẹ phần học vấn mà trọng phần thực hành, […] thứ hai, bối cảnh tuy có những triết lý cao thâm, nhưng về mặt biểu tượng giáo lý lại cực kỳ đơn giản. Vì thế, Phật giáo ở Nhật Bản có thể đi sâu vào mọi tầng lớp, dễ hiểu và dễ thực hành, trải qua bao thăng trầm thời cuộc thì tinh thần Phật giáo vẫn ảnh hưởng sâu đậm trong sinh hoạt quốc dân. Vào thời Edo, đạo Khổng mà chủ yếu là Tống Nho đã được chính quyền Mạc Phủ chọn làm hệ tư tưởng chính thống.