ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hƣớng "Trở về thiên nhiên" thì việc sử dụng các thuốc từ dƣợc liệu của ngƣời dân ngày càng gia tăng, ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của cơ thể hơn. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (Akérelé). Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc thảo dƣợc ngày càng gia tăng tại các nƣớc phát triển và đang phát triển, thị trƣờng thảo dƣợc trong nƣớc, quốc tế đã và đang tăng trƣởng nhanh chóng, mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế. Theo Ban Thƣ ký Công ƣớc về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm thảo dƣợc ƣớc tính tổng cộng 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trƣờng Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á.
Vì vậy quốc gia nào cũng có chƣơng trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dƣợc liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nƣớc mình. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dƣợc liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004, đã phát hiện đƣợc 3.572 chi và 307 họ thực vật có công dụng làm thuốc. Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng và rừng cũng là nơi tập trung hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao. Tuy nhiên, cùng với hậu quả do suy giảm về diện tích và chất lƣợng rừng, tình trạng khai thác bừa bãi, thiếu tổ chức, không có kế hoạch, không có hƣớng dẫn khai thác gắn với bảo tồn, phát triển bền vững, dẫn đến một số loài cây thuốc mọc tự nhiên có nguy cơ cạn kiệt hoặc tiệt chủng.
Nhằm "Quản lý, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên dƣợc liệu phục vụ cho mục tiêu phát triển y tế và kinh tế; chú trọng bảo hộ, bảo tồn và phát triển nguồn gen dƣợc liệu quý, có giá trị; giữ gìn, phát huy và tăng cƣờng bảo hộ vốn tri thức truyền thống về sử dụng 2 cây thuốc của cộng đồng các dân tộc", Thủ tƣớng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dƣợc liệu đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2030 tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013. Tại Yên Bái, theo khảo sát ban đầu của Hội Đông y tỉnh, hiện có hàng nghìn loài cây thuốc và hàng trăm bài thuốc gia truyền, cùng với các tỉnh Lào Cai, Sơn La và Lai Châu, Yên Bái đƣợc mệnh danh là núi thuốc của Tây Bắc. Tuy nhiên, do thiếu các thông tin về các loài cây thuốc hiện có trên địa bàn nên định hƣớng phát triển mới xác định đƣợc 29 loài (Ba kích, Đinh lăng, Địa liền, Giảo cổ lam, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Quế, Sả, Sa nhân tím, Ý dĩ, Bạch chỉ, Bạch truật, Địa hoàng, Hoài sơn (củ mài), Bình vôi, Hà thủ ô đỏ, Atiso, Cà gai leo, Sơn tra, Thảo quả, Nhân trần, Lá khôi, Đảng sâm, Sâm cau, Cây dây gắm, Bách bộ, Đương quy, Gấc) theo Kế hoạch số 206/KH-UBND ngày 08/12/2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái về phát triển cây dƣợc liệu tỉnh Yên Bái đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2025. Trong đó giao cho huyện Văn Chấn phát triển 9 loài (Quế, Thảo quả, Đinh lăng, Sả, Giảo cổ lam, Ý dĩ, Hà thủ ô đỏ, Đƣơng quy), một số loài cây thuốc quý hiếm khác đã đƣợc ngƣời dân trên địa bàn thu hái nhƣ: Lan Kim Tuyến, Hoàng Thảo, Thạch Hộc, Cốt Toái Bổ, Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Hoàng Tinh, Kê Huyết Đằng, Hà Thủ Ô, Thổ Phục Linh, Trà Hoa Vàng, Khôi Tía, Hoàng Bá, Sa Nhân.
chƣa đƣợc định hƣớng phát triển. Cát Thịnh là xã có đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội và hiện trạng tài nguyên rừng mang tính đại diện tiêu biểu của huyện Văn Chấn: có vị trí chiến lƣợc quan trọng, án ngữ hai con đƣờng huyết mạch là quốc lộ 37A và quốc lộ 32 chạy qua, cách trung tâm huyện 20 km và cách Thủ đô Hà Nội 170km. Diện tích tự nhiên toàn xã 16.912,02 ha (chiếm 14% diện tích huyện), diện tích có rừng 10. Đặc biệt, hệ thống núi Bánh có độ cao trung bình hơn 1.200m nhƣ một lá chắn hình cánh cung, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi tập trung hơn 9.000 3 ha rừng tự nhiên khởi nguồn của hệ thống suối Ngòi Lao (1 trong 3 hệ thống suối chính trên địa bàn huyện).355 hộ, chia làm 17 thôn với nhiều thành phần dân tộc, trình độ dân trí không đồng đều và cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhất là 6 thôn ngƣời dân tộc H'Mông và 2 thôn ngƣời dân tộc Dao sống gần rừng.
Xuất phát từ các lý do trên, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến thực trạng tài nguyên cây thuốc trên địa bàn, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội hiện nay và tƣơng lai tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia.
Nhiều công trình khoa học nghiên cứu cây thuốc của các nƣớc đƣợc sử dụng rộng rãi và có giá trị thực tiễn lớn. Nói đến chữa bệnh bằng cây cỏ, ngƣời ta thƣờng nghĩ ngay tới Trung Quốc, đất nƣớc có nền Đông Y lâu đời. Theo truyền thuyết của vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320-3080 trƣớc công nguyên - TCN) thì ông đã nếm hàng trăm loại cây cỏ, phân loại dƣợc tính của thảo mộc và soạn ra cuốn sách “Thần Nông bản thảo”. Cuốn sách đã thống kê đƣợc 365 vị thuốc có giá trị.
Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hƣơng, Tử đinh hƣơng để chế hƣơng nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hƣơng chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Từ thời nhà Hán (năm 168 trƣớc Công nguyên TCN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục”,….
Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh. Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài ngƣời. Trải qua hàng nghìn năm, một số lƣợng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Ngƣời ta ƣớc tính có khoảng 35.000 loài thực vật đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng vào mục đích chữa bệnh.
Tại Trung Quốc, có tới 5.000 loài thực vật dùng làm dƣợc liệu trong y 5 học cổ truyền. Trong hệ thống Y học của ngƣời Trung Quốc, có 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực vật bậc cao. Việc sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nƣớc châu Á nhƣ Ấn Độ, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Pakistan, Banglades, Sri Lanka, Nêpal,… Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đƣợc hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trƣơng của ngƣời Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh.
Bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita đƣợc các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dƣợc. Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dƣợc nhƣ tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con ngƣời. Hiện nay, Chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các Viện nghiên cứu dƣợc của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật.
Ở Philippin, ngƣời ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi; Ở Malaixia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nƣớc cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà; Ở Cămpuchia, Malaixia ngƣời ta dùng Hƣơng nhu tía (Ocimum sanctum), trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét; nƣớc lá tƣơi có tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp. Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhận những cây thuốc trong Y học cổ truyền và các loài cây này đã đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn. Hay gần đây, tập thể các nhà khoa học đã cho ra đời 6 cuốn sách Tài nguyên các loài cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resources of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant, 2001” với 1000 loài cây. Từ thời cổ xƣa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis) để rửa vết thƣơng, vết loét làm cho chúng chóng lành bệnh mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có khả năng làm liền sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa.
Ngƣời cổ Hy Lạp đã sử dụng rau Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thƣơng cho mau lành. Bên cạnh đó Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng ngƣời Hy Lạp đƣợc mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là ngƣời đƣa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”. Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập.
Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician”.