đặt vấn đề nâng cao chất lượng hiện thực của những tác phẩm viết về chiến tranh” [42]. Cũng với vấn đề này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã đề cập và diễn giải một cách chi tiết hơn khi cho rằng: “Trong nhiều sáng tác gần đây, bên cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, đã thấy gia tăng sự chú ý của nhà 16 văn đến việc trình bày con người trong biến diễn lịch sử. Nhiều tác phẩm đã đặc biệt chú ý xây dựng những hoàn cảnh quyết liệt, đẩy xung đột phức tạp, đưa nhân vật của mình vào những tình huống hết sức khó khăn, trình bày những diễn biến và số phận không đơn giản của con người” [107]. Là người trực tiếp cầm bút hoạt động trong lĩnh vực sáng tác, nhà văn Hữu Mai đã không ngần ngại chỉ ra những hạn chế, tồn tại của văn học viết về chiến tranh trước đây.
Ông cho rằng người viết hôm nay không được phép né tránh hiện thực, cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phản ánh khuôn mặt muôn hình muôn vẻ của hiện thực chiến tranh. Trong bài Viết về đề tài chiến tranh giải phóng, nhà văn Hữu Mai đã nhận định: “Bình diện viết về chiến tranh đã được mở rộng. Chúng ta đã có điều kiện đi vào nhiều vấn đề trước đây do những yêu cầu của chiến thắng, của giai đoạn lịch sử còn chưa đề cập tới”; “Một tầm nhìn mới của nhà văn là điều kiện không thể thiếu để đào sâu những vấn đề triết học, đạo đức nâng cao khả năng miêu tả biện chứng những mặt khác nhau của hiện thực chiến tranh: anh hùng và hèn nhát, yêu thương và căm thù, trung thành và phản bội, ý thức trách nhiệm và bản năng sợ chết của con người, chiến thắng và những hy sinh, mất mát, cái đẹp và cái tàn phá, ác liệt của chiến tranh… ” [122]. Nguyễn Minh Châu- một nhà văn mà tên tuổi đã gắn liền với những thành công ở thể loại tiểu thuyết sử thi trước 1975, cũng là người vô cùng nhạy bén với xu hướng đổi mới cách tân và hết sức táo bạo với những thể nghiệm văn xuôi hiện đại.
Trong bài viết Viết về chiến tranh [21], bên cạnh những nhận định về đặc điểm cơ bản của văn học 1945- 1975 trong việc khai thác hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh, ông đồng thời chỉ ra những hạn chế “một chiều, theo hướng tích cực, những mặt xấu được giấu đi trong trang sách” của văn học viết về chiến tranh của giai đoạn này, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra một vấn đề hết sức nhân bản. Đó là vấn đề thể hiện “con người” trong văn học, ông kêu gọi những góc nhìn mới, chân thực hơn về chiến tranh, khai thác đề tài chiến tranh dưới góc độ chiều sâu nhân văn, nhân bản. Có thể nói, Nguyễn Minh Châu- “người mở đường tinh anh và tài năng”, là một trong những nhà văn có công 17 đầu trong thời điểm thay đổi mang tính bước ngoặt khi đặt ra vấn đề bức thiết, đầy tính thời sự của nhu cầu đổi mới. Bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa [20] là đỉnh điểm của sự bức xúc, gay gắt trong luận đề đổi mới của Nguyễn Minh Châu với tư cách một nhà lý luận phê bình.
Sự trở về nguyên lý: Văn học là nhân học là nhận định của nhà văn Hồ Phương khi nhận xét về quá trình vận động của văn học viết về chiến tranh sau 1975. Ông cho rằng văn học sau 1975 chủ yếu đi sâu khám phá và biểu hiện tâm hồn, tính cách, sức sống của con người qua những số phận rất khác nhau trong muôn vàn sự kiện xảy ra trong cuộc sống. “Để đi sâu vào số phận con người, không ít tác giả đã đi sâu viết về các bi kịch cá nhân nằm trong bi kịch chung của dân tộc trong cuộc chiến. Qua những bi kịch ấy, tính cách và bản ngã con người đã được bộc lộ rõ”, “càng đi sâu vào con người, văn học ta càng gần tới bản chất cuộc sống, do đó tính nhân văn cũng cao hơn” [70].
Nhà văn Xuân Thiều trong bài viết Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách mạng [176] đã phân tích tương đối bao quát và sâu sắc những vấn đề của văn học viết về đề tài chiến tranh trong tương quan với văn học trước và sau 1975. Ông nhận định: “Nhân dân ta đã trải qua nửa thế kỷ chiến tranh, nên sự biến động xã hội sẽ vô cùng lớn lao. Nó chi phối số phận từng con người, cả trong chiến tranh và thời hậu chiến. Nó vẫn là một vấn đề lớn của con người Việt Nam không chỉ trong qua khứ mà còn cả trong hiện tại và cả tương lai nữa”.
Nhà văn Xuân Thiều cũng đã vô cùng sâu sắc khi nhận xét về những tác phẩm của những tác giả đang cháy hết mình cho công cuộc đổi mới: “Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã khác trước kia, ngòi bút của nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng của hiện thực chiến tranh, đào sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ đẹp khác nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như vốn có của nó”. Một số vấn đề về sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của văn xuôi sau 1975 đã được đề cập cụ thể hơn trong một số bài viết của các nhà nghiên cứu: Bích Thu, Vũ Tuấn Anh, Tôn Phương Lan… đã phân tích sự vận động đổi mới theo từng chặng và cho rằng văn học từ sau 1975 có thể chia thành hai giai đoạn; Từ 1975 18 đến 1986 văn học vẫn phát triển theo quán tính cũ, đầu những năm 80 văn học đã có một số tín hiệu đổi mới nhưng phải từ 1986 trở đi văn học mới khởi sắc và đổi mới ở nhiều lĩnh vực. Do có sự chuyển mình từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết; đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự- đời tư. Đó là quan điểm nhất quán được Bích Thu khẳng định trong bài viết của mình.
Ở bài Văn học đổi mới và phát triển [2], Vũ Tuấn Anh đã đưa ra nhận định tính chất dân chủ hóa như một xu hướng vận động của văn học sau 1975 và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và chủ nghĩa yêu nước là những thước đo cơ bản nhằm đánh giá văn học suốt một thời gian dài được vận dụng một cách uyển chuyển và mở rộng hơn, chủ nghĩa nhân văn cũng tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những thể nghiệm nghệ thuật theo khuynh hướng dân chủ hóa. Ở một tầng bậc khác, Tôn Phương Lan đã khái quát những vấn đề cần khai thác trong xu thế mới viết về chiến tranh. Trong văn học trước 1975, hiện thực chiến tranh được khắc họa chưa thực sự là hiện thực theo đúng nghĩa của nó, chiến tranh được nhìn nhận đơn giản, thuần túy một chiều, một phía và mang đậm hào quang chiến thắng mà không hề phản ánh hết những hy sinh mất mát, những khó khăn quyết liệt, những sai lầm, vấp váp. Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương được giải, Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trong những năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít nói về những đau thương, mất mát, hy sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con người mà tập trung quan tâm đến số phận đất nước.
Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài này mới có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn, ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường” [92]. Khẳng định văn học sau 1975 đã, đang bước vào một chặng đường mới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận và sẽ còn hứa hẹn rất nhiều những sự đóng góp, khám phá mới là quan điểm chung của rất nhiều nhà lý luận phê bình. Nhận xét về giai đoạn văn học 1975- 1985, Hà Xuân Trường đã khẳng định: “Nền văn học của 19 chúng ta đang vươn tới. Mười năm qua là mười năm thử thách đối với bản chất xã hội chủ nghĩa của nền văn học nước ta”.
Những tác phẩm văn học bước đầu manh nha cho một dòng văn học đổi mới chính là minh chứng cho sự vượt qua “mười năm thử thách” ấy. Phan Cự Đệ tin tưởng: “Văn xuôi chúng ta đang bước vào một chặng đường mới với những thành tựu đáng phấn khởi. Nó đang tập trung giải quyết hàng loạt vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc. Văn xuôi cũng đang có những tìm tòi, khám phá đáng kể, đáng khích lệ những đóng góp mới về mặt thể loại và phong cách thể hiện”, (Mấy vấn đề lí luận văn xuôi hiện nay- Tạp chí Văn học, số 5-1986).
Trong Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua, Trần Đình Sử đã tổng kết: “Nhìn chung có thể khẳng định được là nền văn học nước ta thập kỉ vừa qua đánh dấu sự biến đổi đáng kể của tư duy văn học và đang ở vào thời kỳ mới, thời kỳ hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tượng con người nhiều mặt trong tất cả chiều sâu phong phú của nó”. Đinh Xuân Dũng đã có những phân tích mang tính lý luận, khái quát khá toàn diện và sâu sắc sự thay đổi trong cảm nhận về chiến tranh của các nhà văn ở một tâm thế mới: “Khuynh hướng chính của sự phát triển, mặc dầu trải qua không ít khó khăn, nhiều nhà văn trong số những người nhiều năm viết về chiến tranh trong chiến tranh, đã bứt lên, tự đổi mới chính mình, đặc biệt các nhà văn hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra đời những tác phẩm thực sự đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và minh chứng cho một nhu cầu xã hội không thể né tránh của mảng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh.