Chương 1, tác giả trình bài lý do chọn đề tài và thực trạng trong ngành bất động sản, mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, giới hạn đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các ứng dụng cùng lĩnh vực nghiên cứu. Tác giả trình bày cơ sở lý thuyết và phân tích các ứng dụng cùng lĩnh vực. Trong Chương 2 của luận văn, tác giả trình bày các ứng dụng cùng lĩnh vực liên quan đến đề tài luận văn, phân tích nhằm chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của những hệ thống hiện tại để đề xuất phương pháp khắc phục cho hệ thống trong đề tài luận văn.
- Chương 3: Khái quát hệ thống và xây dựng hồ sơ nghiệp vụ của “Bản đồ bất động sản số Việt Nam – iMap Property Việt Nam” Trình bày sơ đồ tổ chức của công ty, các quy trinh nghiệp vụ chính: quy trình nghiệp vụ phát sinh đăng tin rao bán bất động sản, quy trình nghiệp vụ phát sinh đăng tin rao cho thuê bất động sản, quy trình nghiệp vụ phát sinh đặt mua bất động sản, quy trình nghiệp vụ phát sinh đặt thuê bất động sản, quy trình nghiệp vụ môi giới, ký gửi bất động sản. Đồng thời định nghĩa các thuật ngữ trong luận văn sử dụng, xây 6 dựng hồ sơ nghiệp vụ trình bày các bảng dữ liệu phát sinh tương ứng với các quy trình chính. - Chương 4: Hồ sơ thiết kế Trình bày hồ sơ thiết kế hệ thống: sơ đồ quan hệ thực thể, quy ước thiết kế hệ thống và trình bày thiết kế database và table databas của hệ thống. Đồng thời trình bày hiện thực chức năng tương ứng cho các quy trình chính và hỗ trợ kết nối người bán và người mua.
- Chương 5: Đánh giá và kết luận. Trong Chương 5, tác giả sẽ trình bày việc đánh giá các kết quả đạt được của việc xây dựng hệ thống “Bản đồ bất động sản số Việt Nam – iMap Property VietNam”, ưu điểm và nhược điểm của đề tài, đồng thời trình bày các đóng góp của luận văn về mặt ứng dụng, đề xuất hướng mở rộng trong tương lai và đưa ra kết luận. - Tài liệu tham khảo: Tác giả trình bày các tài liệu tham khảo sử dụng trong đề tài luận văn. - Phụ lục: Tác giả trình bày từ điển cơ sở dữ liệu, các hồ sơ nghiệp vụ liên quan, và hồ sơ thiết kế - Lý lịch trích ngang.
7 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC ỨNG DỤNG CÙNG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Mục tiêu của Chương 2, tác giải trình bày một số khái niệm về bất động sản và đặc tính của bất động sản, tiếp cận một số cơ sở lý luận về hệ thống thông tin và các yếu tố liên quan. Đồng thời tác giả cũng phân tích các ứng dụng cùng lĩnh vực nghiên cứu, phân tích điểm mạnh điểm yếu của từng hệ thống đề ra. Từ đó, hình thành cơ sở và phương pháp luận để tiếp tục nghiên cứu trong các chương tiếp theo.1 Khái niệm bất động sản và đặc tính của bất động sản 2.1 Khái niệm bất động sản Theo điều 107, Bộ luật Dân sự 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Bất động sản bao gồm: a) Đất đai b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.” Theo “Giáo trình Thị trường bất động sản” của tác giả PGS. Nguyễn Thanh Trà, TS.
Nguyễn Đình Bồng: “Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc, cùng với những thứ dùng để nâng cao giá trị sử dụng của bất động sản như hàng rào, cây cối và các trang thiết bị cấp thoát nước, cấp điện, vệ sinh, thông gió, thang máy, phòng cháy, thông tin.2 Đặc tính của bất động sản Theo “Giáo trình Thị trường bất động sản” của tác giả PGS. Nguyễn Thanh Trà, TS. Nguyễn Đình Bồng thì bất động sản có những đặc tính sau đây: 8 Có vị trí cố định, không thể di chuyển được: Vấn đề vị trí có ý nghĩa quan rất quan trọng đối với giá trị của bất động sản, trong luận văn của tác giả, đây cũng là điểm được quan tâm chính, là vấn đề cốt lõi để xác định địa điểm người mua và người bán gặp nhau, tức là cần quan tâm đến địa điểm cụ thể, đến tình hình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội và đến môi trường cảnh quan cũng như kết cấu hạ tầng khu vực có địa điểm của bất động sản. Tính lâu bền: Đất đai là thứ được xem như không bị hủy hoại, trừ khi có thiên tai như xói lở, vùi lấp, những công trình được xây dựng trên đất hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo, nâng cấp có thể tồn tại hàng chục năm đến hàng tram năm.
Có hai loại tuổi thọ của bất động sản: tuổi thọ kinh tế và tuổi thọ vật lý. Tuổi thọ kinh tế chấm dứt khi trong điều kiện thị trường và trạng thái vận hành đều bình thường mà chi phí sử dụng bất động sản ngang bằng với lợi ích thu được từ bất động sản đó. Tuổi thọ vật lý chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu bị lão hóa và hư hỏng, không thể tiếp tục đảm bảo an toàn, cho việc sử dụng. Trong trường hợp đó nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp công trình mà lại thu được lợi ích lớn hơn là phá nó đi và đầu tư xây mới, thì ta có thể kéo dài tuổi thọ vật lý nhằm nâng cao tuổi thọ kinh tế.
Tính dị biệt: Trên thị trường bất động sản, không tồn tại hai công trình hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí, không gian khác nhau, kể cả hai công trình ở cạnh nhau và cùng một thiết kế. Ngay trong cùng một cao ốc thì căn hộ, các phòng cũng có hướng và tầng khác nhau. Ngoài ra cần chú ý đến ý muốn của các nhà đầu tư, người sử dụng và các kiến trúc sư, mỗi người đều quan tâm đến tính dị biệt của bất động sản để tạo ra sự hấp dẫn khách hàng hoặc thỏa mãn sở thích cá nhân. Do đó thị trường bất động sản, địa vị và giá trị của mỗi bất động sản không hoàn toàn giống nhau.
Tính chịu ảnh hưởng của chính sách: Vì bất động sản là tài sản không thể di chuyển được nên bất động sản chịu sự ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách, chẳng hạn như các chính sách đất đai, nhà ở, thuế .v… Hơn thế, bất động sản có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh tế của 9 xã hội, nên chính phủ các nước đều rất quan tâm đến thị trường bất động sản, thường đưa ra chính sách mới trong lĩnh vực này để điều chỉnh các quan hệ pháp luật, quan hệ lợi ích kinh tế trong việc sản xuất, giao dịch và sử dụng bất động sản. Tính ảnh hưởng lẫn nhau: Việc chính phủ đầu tư mở đường, công viên, trường học hoặc v.v… có thể nâng cao giá trị bất động sản trong khu vực phụ cận lên khá nhiều. Từ những đặc tính của bất động sản nói trên, chúng ta càng nhận thấy, vị trí của bất động sản chiếm một vị trí quan trọng trong việc xác định bất động sản, vị trí là một trong những thành phần hết sức quan trọng mà nhà đầu tư cũng như người có nhu cầu mua, thuê bất động sản quan tâm và quyết định có thực hiện giao dịch hay không.2 Khái quát về lý thuyết Hệ thống thông tin quản lý (Managerment Information System) 2.1 Định nghĩa và các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp các thành phần được kết hợp với nhau với mục đích thu thập (collecting), lưu trữ (storing) và xử lý dữ liệu (processing), cung cấp thông tin (information), các sản phẩm kỹ thuật số (digital products). Các công ty kinh doanh hoặc các tổ chức sử dụng hệ thống thông tin để thực hiện hoạt động và quản lý hoạt động của tổ chức, tương tác với khách hàng bằng cách thu thập dữ liệu từ khách hàng hoặc cung cấp dữ liệu cần thiết từ tổ chức đến khách hàng.
Đồng thời các tổ chức cũng dùng hệ thống thông tin của mình để kết nối với hệ thống thông tin bên ngoài, tạo sự trao đổi dữ liệu, mục đích phục vụ cho việc kinh doanh hoặc của quản lý. Hệ thống thông tin là bao gồm các yếu tố hoàn toàn có liên quan với nhau có chức năng cùng nhau thu thập, xử lý và lưu chuyển phân phối thông tin. Hicks (2003) định nghĩa hệ thống thông tin là hệ thống máy tính được chính thức hóa nhằm thu thập, lưu trữ, xử lý và báo cáo dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để cung cấp thông tin cần thiết để quản lý quá trình ra quyết định.d) nói về hệ điều hành máy tính đã đề cập đến năm nhiệm vụ hoặc hoạt động là: thu thập dữ liệu; xử lý dữ liệu; quản lý dữ liệu; kiểm soát và bảo mật dữ liệu và tạo thông tin. Dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau thông qua một quá trình được gọi là xử lý dữ liệu để đầu ra là thông tin hữu ích cho người dùng.
Hệ thống thông tin quản lý bao gồm các thành phần: phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, thủ tục và con người. Tất cả các hệ thống bao gồm hệ thống máy tính và hệ thống máy tính bao gồm đầu vào, quá trình và đầu ra. Quá trình chuyển đổi đầu vào thành đầu ra liên quan đến quản lý thông tin (management information). Các quá trình có thể được chia thành các chương trình (programs) và thủ tục (procedures) máy tính, các chương trình máy tính được thực thi từ phần cứng máy tính và các thủ tục được thực thi bởi con người.
Hình 1: Hệ thống thông tin quản lý theo James O.2 Định nghĩa hệ thống thông tin quản lý MIS (Management Information System) Hệ thống thông tin quản lý MIS là những hệ thống thông tin trợ giúp các hoạt động quản lý của tổ chức, các hoạt động này nằm ở mức điều khiển tác nghiệp, điều 11 khiển quản lý hoặc lập kế hoạch chiến lược. Chúng dựa chủ yếu vào các cơ sở dữ liệu được tạo ra bởi các hệ xử lý giao dịch cũng như từ các nguồn dữ liệu ngoài tổ chức. Vì các hệ thống thông tin quản lý phần lớn dựa vào các dữ liệu sản sinh từ các hệ xử lý giao dịch do đó chất lượng thông tin mà chúng sản sinh ra phụ thuộc rất nhiều vào việc vận hành tốt hay xấu của hệ xử lý giao dịch.