Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1. Hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm soát cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và có liên quan mật thiết đến quản lý. Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới là đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một đơn vị nhất định.
Việc thực hiện kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi môi trường bên trong và bên ngoài đơn vị. Nếu không có kiểm soát, nhà quản lý sẽ không có những thông tin để ra những quyết định thích hợp nhằm thích ứng với môi trường, do đó khó có thể thực hiện được mục tiêu đã đặt ra. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện kiểm soát hiệu quả luôn là nội dung gắn liền với quản lý. Theo các tác giả Schoderbek, Cosier và Aplin (1988), kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa những lệch lạc từ tiêu chuẩn.
Kiểm soát do đó bao gồm các hoạt động: thiết lập tiêu chuẩn, đánh giá thực tế bằng cách so sánh thực tế với tiêu chuẩn, và chỉnh sửa những lệch lạc từ thực tế so với tiêu chuẩn đã xác lập. Cách thức này được áp dụng chung cho mọi hệ thống kiểm soát có thể là kiểm soát chất lượng, kiểm soát hành vi, kiểm soát nhân sự. Các tác giả Jones và George (2003) cho rằng kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, kiểm soát không có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã diễn ra.
Kiểm soát cũng có nghĩa là giữ cho tổ chức theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra. Theo Từ điển Tiếng Việt (1996), kiểm soát là sự xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Với quan điểm nghiên cứu về kiểm soát trong kiểm soát quản lý, TS. Nguyễn Thị Phương Hoa đã đưa ra khái niệm về kiểm soát: “Kiểm e 8 soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả”.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm về bản chất và vai trò của kiểm soát trong quản lý, kiểm soát không phải là một pha hay một giai đoạn trong quá trình quản lý mà là một chức năng không thể tách rời của quản lý. Trong suốt quá trình quản lý, kiểm soát luôn tồn tại trước, trong và sau mỗi hoạt động. Một cách tổng hợp nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý. Kiểm soát là hoạt động quan trọng trong một tổ chức cũng như toàn bộ xã hội.
Với các nhà quản lý, kiểm soát là phương sách để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Không có kiểm soát cũng đồng nghĩa với sự không tồn tại quản lý. Một hệ thống kiểm soát có các thước đo cho phép nhà quản lý đánh giá tính hiệu quả của tổ chức trong việc sản xuất và cung cấp dịch vụ. Không có hệ thống kiểm soát nhà quản lý không có ý tưởng gì về tổ chức hoạt động như thế nào và hoạt động có thể cải thiện ra sao.
Trong lĩnh vực kiểm toán, từ lâu các kiểm toán viên đã nhận thức được ảnh hưởng của kiểm soát đối với báo cáo tài chính của đơn vị và đã phát triển các kỹ năng tìm hiểu, đánh giá chúng để phục vụ cho công tác kiểm toán. Do đó, khái niệm về kiểm soát nội bộ đã hình thành, phát triển và trở thành một hệ thống lý luận về kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị kinh doanh. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán nội bộ cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới. Năm 1987, Hiệp hội các tổ chức tài trợ COSO (được thành lập từ các hiệp hội nghề nghiệp uy tín tại Mỹ) đã công bố một hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ giúp các tổ chức có thể đánh giá quá trình kiểm soát của họ nhằm tìm giải pháp hoàn thiện, trong đó đưa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “KSNB là quá trình do hội đồng quản trị, người quản lý và nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu dưới đây: Đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính; e 9 Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả.” Trên thực tế, báo cáo của COSO được đánh giá là thiết thực, rõ ràng với các tổ chức trong việc thiết lập và thực hiện kiểm soát nội bộ nhằm tạo thành một quá trình liên tục để mỗi tổ chức có thể đảm bảo việc thực hiện được mục tiêu của họ.
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAS 400: “Hệ thống KSNB là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do Ban Giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể”. Cuối năm 2003, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đã ban hành một số chuẩn mực kiểm toán mới, trong đó có ISA 315 “Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu” trên cơ sở đề cập một cách toàn diện về khái niệm rủi ro trong kiểm toán. Chuẩn mực này có hiệu lực từ sau ngày 15/12/2004 và thay thế cho ISA 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ. Theo ISA 315, kiểm soát nội bộ được hiểu là “một quá trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả hoạt động cùng hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định luật lệ”.
Tuy nhiên, cả COSO và IFAC trong ISA 315 mới chỉ đưa ra khái niệm về “kiểm soát nội bộ” mà không phải toàn bộ “hệ thống kiểm soát nội bộ”. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “hệ thống” xét theo cách chung nhất là “thể thống nhất được tạo lập bởi các yếu tố cùng loại, cùng chức năng, có liên hệ chặt chẽ với nhau” hoặc “thể thống nhất bao gồm những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ, có logic”. Theo Từ điển Kinh tế Kinh doanh Anh – Việt có giải thích hệ thống kiểm soát nội bộ là “hệ thống các phương pháp, thể thức hay chế độ kiểm tra trong nội bộ một công ty nhằm đẩy mạnh hiệu quả, đảm bảo việc thi hành đường lối chính sách và bảo toàn các tài sản của công ty”. Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế về Đánh giá rủi ro và Đo lường Kiểm soát nội bộ của IFAC (IAS 400 trước đây) “Hệ thống KSNB là tập hợp bao gồm các e 10 chính sách và thủ tục (các loại hình kiểm soát) được áp dụng bởi các nhà quản lý của đơn vị nhằm thực hiện các mục tiêu đã định như: thực hiện hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật, bám sát chủ trương mà nhà quản lý đã đặt ra; bảo vệ tài sản; ngăn ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót; đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của các thông tin kế toán; lập báo cáo tài chính trung thực, đúng thời hạn”.
Quan điểm này khá tương đồng với Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VAS 400 được ban hành theo Quyết định Số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001: “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm: Đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; Để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; Bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”. Tuy nhiên sau vụ bê bối của Tập đoàn Enron và sự đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng trong khủng hoảng kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy xu thế tất yếu phải tiếp cận kiểm toán trên cơ sở xác định và đánh giá rủi ro. Những thay đổi, sửa đổi và bổ sung hàng loạt những chuẩn mực kiểm toán mới của IFAC theo hướng thích ứng với môi trường kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp là cơ sở cho sự thay đổi của các chuẩn mực kiểm toán ở các quốc gia trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Bộ Tài chính đã ủy quyền cho Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam thực hiện nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam phù hợp với Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế mới, nhưng hiện nay vẫn chưa ban hành.
Đến thời điểm hiện tại, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VAS 400 về Đánh giá rủi ro và Kiểm toán nội bộ vẫn còn hiệu lực. Trên cơ sở những tổng kết những quan điểm khác nhau về hệ thống KSNB, PGS. TS Ngô Trí Tuệ và các cộng sự đã đi đến một khái niệm về hệ thống KSNB một cách chung nhất: “Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu cơ bản: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động”. Cơ sở để thiết kế các chính sách và thủ tục này cần phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và kiểm soát nhằm đảm bảo việc thực hiện e 11 tốt các mục tiêu mà nhà quản lý theo đuổi.
Khái niệm này có tính tổng quát, có thể sử dụng để nghiên cứu hệ thống KSNB trong mọi loại hình đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau như hành chính, kinh doanh hay sự nghiệp.