Chương 1: Một số lý luận căn bản, đặc điểm của hệ thống KSNB trong DNNVV. Chương 2: Thực trạng hệ thống KSNB trong các DNNVV trên địa bàn thành phố Vũng Tàu. Chương 3: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống KSNB cho, DNNVV trên địa bàn thành phố Vũng Tàu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CĂN BẢN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.
Một số vấn đề chung về KSNB. Khái niệm KSNB và hệ thống KSNB. Quá trình hình thành và phát triển. Giai đoạn tiền COSO1 ( từ năm 1992 trở về trước).
Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ với ý nghĩa là một công cụ của kiểm toán hơn là công cụ của quản trị. Ở giai đoạn này, mục tiêu của KSNB là bảo vệ tài sản đặc biệt là tiền mặt khỏi sự biển thủ của nhân viên. Dần dần khái niệm này được áp dụng rộng hơn, những nguyên tắc áp dụng cho tiền cũng có thể áp dụng đối với những tài sản khác (hàng tồn kho, tài sản cố định…). Năm 1929, thuật ngữ này được đề cập chính thức trong công bố của FRB2, theo đó KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền và tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động.
Năm 1936, trong một công bố, AICPA3 đã định nghĩa KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một DN để bảo vệ tiền và các tài sản khác cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách. Đến năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “ KSNB – các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị DN và đối với kiểm toán viên độc lập”. Trong báo cáo này, KSNB được định nghĩa là cơ cấu DN và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một DN để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của NQL. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành những chuẩn mực kiểm toán đề cấp đến 1 COSO – Committed Of Sponsoring Organization - Ủy Ban Đồng Bảo Trợ 2 FRB – Federal Reserve Bulletin – Cục Dữ Trữ Liên Bang Hoa Kỳ 3 AICPA - American Institute of Certified Public Accountants – Hiệp hội Kế Toán viên công chứng Hoa Kỳ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB như SAP 29 (1958), SAP 54 (1972)… trong đó đề cập đến việc phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, các bộ phận cấu thành của KSNB.
Như vậy, trong thời kỳ này khái niệm KSNB đã không ngừng mở rộng. Tuy nhiên nó vẫn chỉ được đánh giá là một phương tiện phục vụ cho các kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán BCTC. Nguyên nhân trực tiếp của việc hình thành báo cáo COSO 1992 là từ những gian lận tại các DN ở Hoa Kỳ, đặc biệt là các DN cổ phần. Song hành cùng với quá trình phát triển là sự ra tăng mang tính quy mô của các gian lận gây ra những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế.
Do vậy, nhiều hiệp hội đã ra đời để khảo sát cũng như tìm cách khắc phục vấn đề này. Năm 1985, ủy ban Treadway được ra đời để chuyên điều tra về những vấn đề này. COSO là một ủy ban bao gồm nhiều DN nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho ủy ban Treadway. COSO bao gồm năm DN hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán như là: AICPA, AAA 4, FEI 5, IIA6 và IMA7.
Qua quá trình tìm hiểu về gian lận, COSO đã nhận thấy rằng KSNB đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xẩy ra gian lận. Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra một khuôn khổ chung về KSNB được đặt ra. Báo cáo COSO là kết quả của quá trình nghiên cứu này. Báo cáo được xây dựng rất công phu nên được đánh giá cao, trước khi đưa vào thực tế thì DN kiểm nghiệm nó tại các DN sau đó mới chính thức ban hành vào năm 1992.
Báo cáo COSO 1992 gồm 2 cuốn được chia thành 4 phần: Phần 1: Bản tóm lược – Tổng quan về KSNB cho NQL cấp cao. Phần 2: Khuôn khổ chung của KSNB – Định nghĩa về KSNB, mô tả các yếu tố của KSNB và chỉ ra những chỉ tiêu để kiểm soát hệ thống. Phần 3: Báo cáo cho các thành viên bên ngoài – Hướng dẫn cách thức báo cáo cho 4 AAA – American Accounting Association – Hiệp hội Kế Toán Hoa Kỳ 5 FEI – Financial Executives Institute – Hiệp hội quản trị viên tài chính 6 IIA - Institute of InternalAuditors – Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ 7 IMA – Institute of Management Accountanhts – Hiệp hội Kế Toán viên quản trị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 các đối tượng bên ngoài về KSNB liên quan đến tài chính.
Phần 4: Các công cụ đánh giá – Bao gồm các bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên Thế Giới nghiên cứu và định nghĩa về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống, là một khuôn mẫu lý thuyết cơ bản về KSNB. Đặc biệt nổi bật của báo cáo này là cung cấp một cái nhìn rộng mang tính quản trị, trong đó KSNB vừa là vấn đề liên quan đến BCTC mà còn được mở rộng cho các phương diện hoạt động và tuân thủ. Giai đoạn hậu COSO 1992 ( từ năm 1992 đến nay).
Báo cáo COSO 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB. Trên cơ sở đó hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời. Hoàn thiện theo hướng quản trị: Năm 2001 dựa trên Báo cáo COSO 1992, COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro DN. Bản dự thảo được hình thành và công bố vào tháng 07 năm 2003.
Hoàn thiện theo hướng chuyên sâu váo những nghành nghề cụ thể: Báo cáo BASLE 98 của Ủy ban Basle thì các Ngân hàng Trung Ương đã đưa ra một công bố về cuốn khuôn khổ KSNB trong Ngân hàng. Báo cáo Basle 98 không đưa ra những lý luận mới mà chỉ là sự vận dụng các lý luận cơ bản của báo cáo COSO 1992 vào lĩnh vực Ngân hàng. Hoàn thiện theo hướng nhiều quốc gia: Nhiều Quốc gia trên thế giới có khung hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB. Ví dụ như báo cáo COSO 1995 của Canada hay báo cáo Turnbull 99 của Anh…Những báo cáo này có quan điểm riêng về tổng thể nhưng không có sự khác biệt lớn so với báo cáo COSO 1992.
Khái niệm KSNB. Theo COSO 1992 thì “ KSNB là một quá trình do NQL, HĐQT và các nhân viên của DN chi phối, nó đươc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu: Sự tin cậy của BCTC. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Sự hiện hữu và hiệu quả hoạt động của quy định.” Trong định nghĩa trên có bốn yếu tố quan trọng cần lưu ý là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Những yếu tố đó được hiểu như sau: KSNB là một quá trình: Điều này có nghĩa là khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay từng tình huống mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong DN và được kết hợp lại thành một thể thống nhất. KSNB tỏ ra hữu hiệu khi nó được xây dựng như một phần cơ bản cho các hoạt động trong DN chứ không phải là là sự bổ sung cho các hoạt động trong DN hay là một gánh nặng bị áp đặt bởi cơ quan quản lý DN hay là các thủ tục hành chính. Quá trình KSNB chính là phương tiện để giúp cho các DN đạt được mục tiêu của chính mình. KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu … mà còn bao gồm cả những con người trong DN như HĐQT, BGD và các nhân viên.
Con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát và vận hành hướng tới các mục tiêu đã định. Ngược lại KSNB cũng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân có khả năng, lối nghĩ, những ưu tiên khác nhau khi làm việc đồng thời họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi, hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của DN.
KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ đảm bảo cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối cho NQL việc đạt được mục tiêu của DN. Nguyên nhân là do trong quá trình vận hành hệ thống KSNB có những hạn chế tiềm tàng như sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của NQL và do mối quan hệ giữa lợi ích được mong đợi quá trình kiểm soát và chi phí của việc thiết lập, vận hành hệ thống KSNB. Do vậy, KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xẩy ra. Các mục tiêu của KSNB: Mỗi DN phải đặt mục tiêu mà DN hướng tới.
Có thể chia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 các mục tiêu mà DN thiết lâp ra thành 3 nhóm sau: Nhóm mục tiêu về BCTC: Nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của BCTC mà DN cung cấp vì vậy NQL phải có trách nhiệm lập BCTC phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Mục tiêu này chủ yếu xuất phát từ các đối tượng bên ngoài DN (nhà đầu tư, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp…). Những đối tượng này thường dựa vào BCTC để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Vì thế, BCTC trung thực và đáng tin cậy là điều kiện chủ yếu để thu hút vốn đầu tư, là cơ sở để ra quyết định cho việc ký hợp đồng, thương thảo với nhà cung cấp hoặc khách hàng.
Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Liên quan tới việc chấp hành luật pháp và các quy định trong môi trường kinh doanh.