đặt vấn đề: đổi mới căn bản, toàn diện nền GD. Qua đó có thể nói, Đảng đã thấy rõ và chỉ ra sự cấp bách và bức xúc của vấn đề này. Một số xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng phổ thông hiện nay Đổi mới PPDH đƣợc xem là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới giáo dục. Bởi lẽ, PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phƣơng pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy đƣợc khả năng tƣ duy, sáng tạo của ngƣời học.
Chính vì vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã đƣợc đặt ra đối với tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Đặc biệt, khi chúng ta đang chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam trong những năm tới theo tinh thần 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com , Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì vấn đề đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Định hƣớng chung về đổi mới PPDH đã đƣợc thể chế hóa trong Luật giáo dục 2005, điều 28.2: “Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.” Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH ở trƣờng THCS là hướng tới giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc. Cụ thể là: 1.
Đổi mới mục tiêu Từ yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cũng cần đƣợc thay đổi để đào tạo những con ngƣời thích ứng với xã hội phát triển, với bản thân ngƣời học. Trong mục tiêu giáo dục của các cấp bậc học đã có điểm mới là tập trung hơn nữa vào việc hình thành năng lực cho HS đó là: năng lực nhận thức, năng lực hành động (năng lực giải quyết vấn đề), năng lực thích ứng với điều kiện xã hội. Đổi mới hoạt động của GV Với yêu cầu đổi mới PPDH theo hƣớng tích cực hoá hoạt động học tập của HS thì hoạt động giảng dạy của GV cũng có sự đổi mới. Không chỉ cải tiến các PPDH truyền thống, GV cần có sự kết hợp đa dạng các phƣơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, nhƣ: vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động, phương pháp dạy học đặc thù bộ môn, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật khăn trải bàn.
Đồng thời, GV cũng cần tăng cƣờng sử dụng phƣơng tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học 1. Đổi mới hoạt động học tập của HS Hoạt động học tập của HS đƣợc chú trọng, tăng cƣờng trong giờ học và mang tính chủ động. Dƣới sự hƣớng dẫn của GV, HS cần tích cực tham gia vào quá trình khám phá tìm tòi để thu nhận kiến thức một cách chủ động tích cực nhƣ: phát hiện vấn đề cần nghiên cứu hoặc nắm bắt vấn đề học tập do GV nêu ra, thực hiện các hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com , ra, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích, tìm hiểu một số hiện tƣợng hoá học xảy ra trong thực tế đời sống. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học.
Hình thức tổ chức dạy học, địa điểm học của HS không chỉ diễn ra trên lớp mà còn đƣợc thực hiện ở phòng bộ môn, phòng học đa phƣơng tiện, ở ngoài trƣờng học… HS không chỉ thu nhận thông tin qua sách giáo khoa mà còn qua sách tham khảo, các phƣơng tiện thông tin, phƣơng tiện kĩ thuật (băng, đĩa, mạng internet) và tham gia các hoạt động chia xẻ thông tin thu đƣợc. Các phƣơng tiện dạy học đƣợc đa dạng hoá, không chỉ là phấn, bảng, sách vở.Các thí nghiệm hoá học, phƣơng tiện dạy học đƣợc sử dụng chủ yếu nhƣ là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát hiện, thu nhận kiến thức và cả phƣơng pháp nhận thức. Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá Đổi mới phƣơng pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chƣơng trình sách giáo khoa, phƣơng pháp dạy học cho đến kiểm tra - đánh giá kết quả học tập. Kiểm tra - đánh giá có vai trò rất to lớn đối với việc nâng cao chất lƣợng đào tạo.
Kết quả của kiểm tra - đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục. Cùng với xu hƣớng chung của sự đổi mới phƣơng pháp dạy học, kiểm tra - đánh giá trong dạy học cũng đã có những đổi mới quan trọng, đáng kể cả về nội dung và hình thức. Trong kiểm tra - đánh giá, không chỉ đánh giá đến kết quả học tập mà còn chú trọng đến việc đánh giá theo cả quá trình học tập của HS. Đánh giá thành tích học tập đang dần hƣớng đến quan điểm đánh giá sự phát triển năng lực, không chỉ giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà cần chú trọng vào năng lực vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của thực tiễn.Đánh giá năng lực đƣợc thể hiện rõ qua các kỳ thi PISA.
Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trƣờng THCS 1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THCS 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com , Việc sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp kiểm tra - đánh giá quan trọng, thiết thực, rất có giá trị, đã và đang đƣợc sử dụng không chỉ đối với môn Hóa học mà còn đối với cả các môn học khác ở trƣờng phổ thông. Bài tập hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phƣơng pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập hóa học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt.
Ý nghĩa trí dục + Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng đƣợc kiến thức vào việc giải bài tập HS mới nắm đƣợc kiến thức một cách sâu sắc. + Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng đƣợc các kiến thức đã học, hiến những kiến thực tiếp thu đƣợc qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình.
Khi vận dụng đƣợc kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ đƣợc nhớ lâu. + Ôn tập, củng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất + Rèn luyện các kĩ năng hóa học nhƣ cân bằng phƣơng trình phản ứng, tính toán theo CTHH và PTHH… nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS. + Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất, bảo vệ môi trƣờng. + Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tƣ duy.Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở HS các năng lực tƣ duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh, sáng tạo, rèn trí thông minh cho HS.
Một bài tập có nhiều cách giải có cách giải thông thƣờng theo các bƣớc quen thuộc nhƣng cũng có cách giải độc đáo, thông minh, ngắn gọn mà lại chính xác. Đƣa ra một bài tập rồi yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, tìm những cách giải ngắn nhất hay nhất là một cách rèn luyện trí thông minh cho các em. Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com , Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động: lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc.
Thông qua việc vận dụng bài tập hóa học vào việc giải quyết một số vấn đề của thực tế nhƣ: môi trƣờng, nƣớc sạch. các em sẽ có ý thức trách nhiệm hơn với xã hội, cộng đồng 1. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn Hóa học ở trường THCS: Bài tập hóa học dùng trong dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS có thể phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào nội dung, hình thức, kiến thức, mục đích, yêu cầu kiểm tra - đánh giá. Bài tập trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm) TNKQ là phƣơng pháp KT-ĐG kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TNKQ gọi là "khách quan" vì hệ thống cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào ngƣời chấm.
Khi làm bài HS chỉ lựa chọn đáp án đúng trong số các phƣơng án đã cho. Thời gian dành cho mỗi câu chỉ từ 1- 2 phút. * Các dạng câu hỏi TNKQ: Câu hỏi TNKQ có 4 dạng chính đƣợc trình bày trong sơ đồ sau: Câu TNKQ Câu điền khuyết Câu ghép đôi Câu đúng sai Câu nhiều lựa chọn Dạng 1 : Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn. Phần câu dẫn : Là những câu hay phƣơng trình hoá học còn bỏ trống.
Phần trả lời : Là những từ, những cụm từ, công thức hoá học… phải lựa chọn điền vào chỗ trống cho thích hợp * Ƣu điểm: HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu trả lời. Loại này dễ soạn hơn câu hỏi nhiều lựa chọn. * Nhƣợc điểm: Khi soạn loại câu này thƣờng dễ mắc sai lầm là ngƣời soạn thƣờng trích nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thƣờng chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn những dạng câu hỏi TNKQ khác.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com , Dạng 2 : Câu trắc nghiệm “ghép đôi.” Phần câu dẫn : ở cột I gồm một phần của câu (Câu chƣa hoàn chỉnh) hay một yêu cầu. Phần trả lời : ở cột II gồm phần còn lại của câu hoặc một đáp số mà ta phải chọn để ghép với cột I cho phù hợp.