CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về BTHH và việc sử dụng BTHH trong dạy học HH. Ở trong nước có GS. Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về bài toán; PGS.
Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về bài tập TN định lượng; PGS. Lê Xuân Trọng, PGS. Đào Hữu Vinh, TS. Cao Cự Giác và nhiều tác giả khác quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán,.
Các tác giả ngoài nước như Apkin G. nghiên cứu về phương pháp giải BTHH. Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành HH nghiên cứu về vấn đề sử dụng hệ thống BTHH ở trường THPT ở các khía cạnh, mức độ khác nhau như : 1. Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kỹ năng giải bài tập hoá học ở trường phổ thông trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
Lê Văn Dũng (2001), Phát triển tư duy cho HS thông qua BTHH, Luận án tiến sĩ. ĐHSP Hà Nội. Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng hệ thống BTHH nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ. ĐHSP Hà Nội.
Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH bồi dưỡng HS khá giỏi lớp 10 THPT (ban nâng cao), Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của HS qua BTHH vô cơ lớp 11- Ban Khoa học tự nhiên, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP TpHCM và một số Luận văn thạc sỹ khác. Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng hệ thống BTHH phần phi kim lớp 10 ở các trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đổi mới phương pháp dạy và học [7] 1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học Sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế xã hội chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Sự thay đổi này đòi hỏi ngành GD cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển.
Sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin và khoa học đang làm thay đổi xã hội. Sự thay đổi này đòi hỏi phải xây dựng một xã hội tri thức, xã hội học tập. Với yêu cầu mới này đòi hỏi ngành GD phải đào tạo nguồn nhân lực theo hướng phát triển năng lực: nhận thức, tư duy, phát hiện và giải quyết vấn đề, thích ứng, hợp tác, tự học và khả năng tự học suốt đời. Thực trạng GD hiện nay: Chưa chú trọng bỗi dưỡng năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực tự học.
Chủ yếu là HS học thụ động, học để thi cử vào đại học và căn bệnh thành tích, do đó chỉ chú trọng kĩ năng làm bài. Với các yếu tố trên đỏi hỏi ngành GD nước ta phải đổi mới căn bản và hoàn thiện. Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học Việc đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay thực hiện theo các xu hướng sau: 1. Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học.
Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá. Cá thể hóa việc dạy học. Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học.
Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống. Chuyển từ lối học nặng về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức. Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học. Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời.
Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học). Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương pháp tự học [11], [15], [24] 1.
Khái niệm tự học Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 tự học là: “…quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”. Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”. Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, xem truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham gia giao tiếp với mọi người để thu nhận tri thức cho mình.
Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, … Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao. Các hình thức của tự học Tự học có các hình thức cơ bản sau: - Tự học hoàn toàn (không có GV): HS tự học thông qua tài liệu, qua tìm hiều thực tế, học kinh nghiệm của người khác. Với hình thức này HS sẽ gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình… Từ đó, HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: HS tự học lại bài học hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông. Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ. - Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải, minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo phần mềm máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai. - Tự lực hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định. Song nếu HS vẫn dùng sách giáo khoa (SGK) hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp phải một số khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học.
Như vậy, mỗi hình thức tự học đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Nhằm khắc phục những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS THPT chúng tôi thấy cần chú ý đến hình thức hướng dẫn HS tự học theo hệ thống bài tập có hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là “tự học có hướng dẫn qua BTHH”. Chu trình học [23] Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự hỗ trợ của môi trường sư phạm”. Chu trình học diễn biến theo ba thời : Tự nghiên cứu (I), Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III).
Chu trình học ba thời Thời (I): Tự nghiên cứu Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học : Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể giải quyết theo hướng nào ? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề. Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu. Sản phẩm này có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học. Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan, khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với các bạn và thầy trong cộng đồng lớp học.
Đó là các hoạt động học ở thời (II) của chu trình học. Thời (II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình huống, bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu. Người học tiếp tục tự thể hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của mình, hỏi bạn và thầy về những điều mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận. Tranh luận có trọng tài, có kết luận của thầy.