Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG 1. Khái niệm ly hôn Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ly hôn là một hiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc, và bị quyết định bởi chế độ xã hội. Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân.
Nếu như kết hôn làm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng đó. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng lại là mặt không thể thiếu của quan hệ hôn nhân khi quan hệ này đã thực sự tan vỡ. Khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, ly hôn là cần thiết, có lợi cho vợ, chồng, cho thành viên gia đình và toàn thể xã hội. Lênin: "Thực ra, tự do ly hôn không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh" [53, tr.
Thực chất, ly hôn giúp giải phóng gia đình khỏi những xung đột, mâu thuẫn và bế tắc trong cuộc sống chung, giúp những thành viên trong gia đình không còn phải tiếp tục duy trì một cuộc sống chung khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích hôn nhân đã không thể đạt được. Do đó, theo quan điểm trên, tự do ly hôn cũng góp phần thúc đẩy sự bền chắc của gia đình và xã hội. Tuy vậy, tự do ly hôn không có nghĩa là ly hôn một cách tùy tiện. Ăngghen toàn tập, C.
Mác phê phán mạnh mẽ quan điểm vợ chồng chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân và xin ly hôn một cách tùy tiện, không chú ý đến lợi ích chung của gia đình, của Nhà nước và xã hội [53, tr. Trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật nhà nước phong kiến, tư sản thường quy định việc cấm vợ chồng ly hôn hoặc vợ chồng 16 muốn ly hôn phải có rất nhiều điều kiện nhằm hạn chế quyền ly hôn của vợ, chồng hoặc đặt ra quy định giải quyết ly hôn dựa trên yếu tố lỗi của vợ, chồng. Ở nước ta, hệ thống pháp luật HN&GĐ dưới thời phong kiến cũng thể hiện cụ thể luận điểm trên. Dưới chế độ cũ, quyền yêu cầu ly hôn và các duyên cớ ly hôn theo luật định thường dựa trên quan hệ "bất bình đẳng" giữa vợ và chồng.
Hệ thống pháp luật nước ta về HN&GĐ từ năm 1945 đến nay quy định vấn đề ly hôn với quan điểm tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly hôn theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin nhưng trên cơ sở lợi ích của gia đình và xã hội. Theo Luật HN&GĐ năm 2000, "Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng" [32, Khoản 8 Điều 8]. Như vậy, ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của hai vợ chồng và được công nhận bằng bản án, quyết định của Tòa án. Đảm bảo quyền tự do ly hôn cho các bên vợ chồng chính là nội dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tiến bộ được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2000.
Pháp luật của Nhà nước ta công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn là quyền chính đáng của vợ, chồng. Nhà nước bằng pháp luật, không thể cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau thì cũng không thể bắt buộc họ phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương đã hết và mục đích hôn nhân không đạt được. Nhưng tự do ly hôn không có nghĩa là ly hôn một cách tùy tiện, chỉ theo ý chí, nguyện vọng của vợ, chồng mà phải dựa trên những căn cứ luật định và trên cơ sở sự công nhận của Tòa.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000, căn cứ để vợ chồng được xem xét ly hôn là khi quan hệ vợ chồng đã ở vào "tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được" [32, Khoản 1 Điều 89]. Ngoài ra, trong trường hợp đặc biệt, "vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên 17 bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn" [32, khoản 2 Điều 89]. Tuy nhiên, ly hôn trong trường hợp này chỉ là quyết định của một bên vợ, chồng trong hoàn cảnh đặc biệt mà không phát sinh từ mâu thuẫn của vợ chồng trong đời sống thực tế. Như vậy, căn cứ ly hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 vừa đảm bảo quyền tự do ly hôn của công dân vừa thể hiện tư tưởng phản đối việc ly hôn tùy tiện của các nhà làm luật.
Nói tóm lại, có thể hiểu, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo một bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án. Trên cơ sở bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án đó, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa những người đã từng là vợ và chồng. Và một trong quan hệ phát sinh đó là quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn. Đây là một trong những quan hệ chủ chốt, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tế khi vợ chồng ly hôn.
Khái niệm hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn: Là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn bao gồm: vấn đề chia tài sản chung giữa vợ chồng khi ly hôn, vấn đề cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn và vấn đề quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ chồng khi ly hôn. ĐẶC ĐIỂM CỦA HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn thực chất là đề cập đến quan hệ sở hữu của vợ chồng đối với tài sản khi ly hôn. Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân khi vợ chồng vừa là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, vừa là chủ thể của quan hệ pháp luật HN&GĐ nói riêng khi thực hiện quyền sở hữu của mình và tham gia vào các quan hệ xã hội, vấn đề "hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn" có thể xem xét dưới những đặc điểm riêng biệt sau: 18 Thứ nhất, xét về chủ thể: các bên chủ thể trong quan hệ phải có quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận là vợ chồng của nhau bao gồm hôn nhân hợp pháp (có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn) và hôn nhân tuy không có đăng ký nhưng vẫn được pháp luật công nhận (hay còn gọi là "hôn nhân thực tế"). Thứ hai, căn cứ xác lập hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn là sự kiện ly hôn.
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng là một đề tài rất lớn với nhiều khía cạnh khác nhau, trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn, vậy nên, căn cứ xác lập các quan hệ tài sản này là sự kiện ly hôn. Thứ ba, về khách thể quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn: Mục đích của việc quy định hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng hoặc bên thứ ba liên quan khi vợ chồng ly hôn. Thứ tư, nội dung hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn sẽ bao gồm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về quan hệ tài sản khi ly hôn. Quan hệ này đặc biệt ở chỗ, khi ly hôn, các chủ thể không còn là vợ chồng, nhưng pháp luật quy định họ vẫn có những quyền và nghĩa vụ với nhau xuất phát từ việc họ đã từng là vợ chồng của nhau (như nghĩa vụ cấp dưỡng).
Đây là nét rất riêng của quan hệ tài sản giữa vợ chồng, thể hiện đúng tinh thần của nhà làm luật khi đề cao vấn đề tình cảm trong quan hệ HN&GĐ. Ý NGHĨA CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN Khi vợ chồng ly hôn, bên cạnh đời sống tình cảm, vấn đề vật chất, tài sản luôn được quan tâm. Các quy định về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của vợ, chồng. Bên cạnh đó, các quy định về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn cùng góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm vì nhau giữa những người đã từng là vợ và chồng.
Việc quy định về hậu quả tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn cũng thể hiện trình độ phát 19 triển của xã hội, thể hiện bản chất giai cấp, bản chất chế độ khi xác định được tài sản mà người vợ, người chồng được quyền sở hữu sau khi ly hôn, giúp đảm bảo đời sống riêng của từng người. Ngoài ra, các quy định này cùng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn. Sở dĩ, các nhà làm luật phải dự liệu về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn là vì những lý do sau: Thứ nhất, tài sản có vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cùng chung sống, cùng tạo lập tài sản chung của vợ chồng; nay ly hôn, cần thiết tái xác định lại cụ thể đâu là tài sản của vợ, đâu là tài sản của chồng.
Bởi lẽ, khi vợ chồng ly hôn thì giữa họ không còn ràng buộc gì về nghĩa vụ chung nữa, việc dự liệu vấn đề quan hệ tài sản giữa vợ chồng giúp vợ chồng có thể đảm bảo được cuộc sống của riêng mình, đảm bảo được quyền lợi của cá nhân sau khi ly hôn.