Chương 1: Thanh Hóa giữ vững chính quyền và xây dựng thành một tỉnh vững mạnh của hậu phương kháng chiến (1945 - 1950) Chương 2: Thanh Hóa tăng cường tiềm lực hậu phương, chi viện cho tiền tuyến (1951 - 1954) Chương 3: Một số nhận xét chung 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 THANH HÓA GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN VÀ XÂY DỰNG THÀNH MỘT TỈNH VỮNG MẠNH CỦA HẬU PHƢƠNG KHÁNG CHIẾN (1945 - 1950) 1. Khái quát về quá trình đấu tranh giành và giữ vững chính quyền ở Thanh Hóa (1945 - 1946) 1. Vài nét khái quát về Thanh Hoá Trong một bức thư gửi danh sĩ Nguyễn Lộ Trạch, nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền viết: “Ở phía Tây Nam Hạc thành có hòn núi đẹp, cao tột trời, ngôi nhà của tôi ở tại đó, cây cối rậm rạp có thể làm nơi nghỉ ngơi để xem văn bài …” [57, tr. Hạc thành là tỉnh lỵ Thanh Hoá.
Thanh Hoá là tỉnh thuộc Bắc Trung bộ, có vĩ độ Bắc 19033`- 20030´, kinh độ Đông 1140- 106030´. Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới là 175 km; phía Nam và Tây Nam liền kề tỉnh Nghệ An với đường ranh giới dài hơn 160 km; phía Tây giáp nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn của nước Lào với đường biên giới dài 192 km; còn phía Đông, mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông, với bờ biển dài trên 102 km và một thềm lục địa khá rộng. Phần đất liền của Thanh Hoá chạy dài theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam. Theo dư địa chí Thanh Hoá, tổng diện tích tỉnh là 11.168 km2 và một thềm lục địa.
Diện tích Thanh Hoá đứng thứ 4 trong tổng số 61 đơn vị tỉnh trực thuộc Trung ương. Thanh Hoá có hệ thống giao thông thuận lợi, trong đó đường bộ có 6 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 800 km gồm 1A, quốc lộ 10; đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 217 xuyên suốt cùng trung du miền núi và các tuyến đường đến các trục Đông - Tây, nối liền các vùng miền trong tỉnh, đến nước bạn Lào theo đường xuyên ASEAN. Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua tỉnh dài 92 km, có nhánh rẽ vào khu công nghiệp Bỉm Sơn, khu công nghiệp Nghi Sơn, cảng Nghi Sơn. Hệ thống sông ngòi phân bố khá đều, giao thông đường thuỷ là tiềm năng để phát triển kinh tế; Thanh Hoá có cảng biển tổng hợp Nghi Sơn, cảng pha sông biển Lễ Môn, Lạch Bạng có thể đi trực tiếp đến các cảng trong nước, các nước trong khu vực và thế giới.
Ngoài ra Thanh Hoá còn có hơn 1.000 km đường sông cho phép thuyền, xà lan đi lại dễ dàng trên các tuyến sông. Ngoài tiềm năng về kinh tế, vùng biển và thềm lục địa còn được đánh giá là có vị trí chiến lược, có nhiều điểm trọng yếu về quốc phòng. Thanh Hoá có đủ các dạng địa hình: từ núi tương đối cao đến đồi trung du, đồng bằng, đồng chiêm trũng (nhiều vùng mặt đất còn thấp hơn mực nước biển), đến bãi bồi, ruộng vùng ven biển, các đảo ven bờ và ngoài khơi. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích cả tỉnh, nhiều đồi núi cao từ 1.500 m gắn liền với vùng rừng núi thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào).
Khí hậu Thanh Hoá có tính chất chuyển tiếp giữa Bắc bộ và Trung bộ với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 240C ở vùng đồng bằng-trung du, 200C ở vùng núi. Lượng mưa trung bình từ 1. Số ngày mưa 130 - 150 ngày và mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm.
Thanh Hoá là vùng đất có từ rất lâu đời của dân tộc Việt, qua các công cụ thô sơ trong những xưởng chế tác đá công cụ ở núi Đọ (Thanh Hoá) cho thấy người tiền sử đã từng sinh sống trên mảnh đất này từ thời đại đồ đá cũ. Mặt khác, Thanh Hoá còn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong cả lĩnh vực quân sự lẫn kinh tế. Do vậy, mảnh đất này là nơi phát sinh nhiều triều đại phong kiến Việt Nam gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc, Thanh Hoá là căn cứ, hậu phương của các cuộc chiến tranh ái quốc chống giặc ngoại xâm oanh liệt, góp phần xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước.
Chính trên quê hương này đã sản sinh ra những người con ưu tú, anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Dương Đình Nghệ, Lê Lợi,…. Ở Thanh Hoá, nhân dân từ miền xuôi đến miền ngược đã hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa như: Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo; khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân và Cao Điểm lãnh đạo…. Trong những cuộc khởi nghĩa đó thì khởi nghĩa Ba Đình được xem là đỉnh cao của phong trào đấu tranh sôi nổi, rộng khắp các huyện đồng bằng, ven biển. Mặc dù bị quân thù dìm trong biển máu, song tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của các sĩ phu yêu nước như Tống Duy Tân, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Cao Điển, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước,… là những tấm gương sáng trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước của nhân dân Thanh Hoá vào cuối thế kỷ XIX.
Bài ca tướng lĩnh Cần Vương Thanh Hoá đã phần nào nói lên ý chí chiến đấu của các bậc sĩ phu yêu nước: Sinh thời trọn nghĩa đội trời xanh Đau đớn nào hơn sự chẳng lành Dũng khí vút cao trên Hùng Lĩnh Hồn trung phảng phất trước anh linh Ông đâu sợ pháo quân Tây tặc Ta há tha Tần bọn Pháp lang Đã quyết chung thề không cùng sống Được thua vẫn vững dạ anh hùng Trải qua nhiều thế kỷ xây dựng và đấu tranh, Thanh Hoá đã giữ một vị thế chiến lược trọng yếu, đóng góp to lớn cho sự tồn tại và phát triển của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân tộc Việt Nam. Tên gọi tỉnh Thanh Hoá bắt đầu có từ năm Thiệu trị thứ ba, tức là năm 1843. Dưới thời thực dân Pháp thống trị, Thanh Hoá là một tỉnh thuộc xứ Trung Kỳ, có một tỉnh lỵ, 14 phủ, huyện đồng bằng, trung du và 6 châu Thượng du. Về chính trị: Thanh Hoá là một xứ bảo hộ của thực dân Pháp, bộ máy cai trị nhà Nguyễn vẫn được duy trì, nhưng vua không có thực quyền.
Quyền thực sự nằm trong tay viên Khâm sứ, ở cấp tỉnh đứng đầu là viên Công sứ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá phải chịu cảnh áp bức của thực dân Pháp. Không những thực dân Pháp tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ mà còn chia rẽ tôn giáo làm suy yếu khối đại đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Về kinh tế: Nhận thấy Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng người đông nên thực dân Pháp đã ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công… Từ năm 1896 – 1925, chúng đã đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ nông sông Chu (gồm 1 đập Bái Thượng, 1 kênh đào chính, 2 kênh đào phụ) với chiều dài là 110 km cùng với hệ thống Chi Giang tiểu câu dài 2.625 km, đảm bảo tưới nước cho 5 vạn ha ruộng đất của các huyện thuộc vùng đồng bằng sông Chu, sông Mã. Mặt khác chúng đã tổ chức lực lượng điều tra thăm dò khoáng sản trên địa bàn toàn tỉnh, độc chiếm và khai thác 35 khu mỏ (kẽm ở Quan Hoá, Crômít ở Cổ Định,….), khai thác các loại gỗ quý hiếm… Mặt khác, người Pháp còn nắm độc quyền về sản xuất rượu và buôn bán rượu, độc quyền về xuất - nhập khẩu, đánh thuế cao các nghề thủ công nghiệp nội địa, chúng đưa hàng hoá nhập ngoại tràn ngập vào thị trường… khiến nền kinh tế của Thanh Hoá nói riêng và Việt Nam nói chung rơi vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc là chủ yếu, công thương nghiệp nhỏ lẻ và phụ thuộc vào Pháp.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về văn hoá xã hội: Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, chủ trương xây dựng một nền văn hoá phản động, đồi trụy, tự ty dân tộc để dễ bề cai trị. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Thanh Hóa chỉ có duy nhất một trường Trung học, một số trường Tiểu học, một nhà thương và một số trạm xá chủ yếu phục vụ bọn thực dân và quan lại phong kiến, hơn 90% dân số Thanh Hoá mù chữ, ốm đau bệnh tật không nơi chữa bệnh, trong khi đó chúng lại khuyến khích nhân dân dùng rượu cồn, thuốc phiện, các tệ nạn xã hội: mê tín, dị đoan, mại dâm, cờ bạc phát triển làm suy thoái nòi giống, kìm hãm đồng bào các dân tộc trong vòng tối tăm lạc hậu. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Thanh Hoá là một tỉnh thuộc Liên khu IV cả về hành chính và quân sự. Các phủ, huyện, châu cũ được đổi thành 21 huyện và một thị xã.
Đến năm 1995, bản đồ địa chính tỉnh Thanh Hoá chính thức gồm: 1 thành phố, 2 thị xã và 20 huyện. Từ năm 1999, theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ ngày 05/8/1999 về việc điều chỉnh địa giới hành chính, tỉnh Thanh Hoá gồm “27 huyện, thị, thành phố với 630 xã, phường, thị trấn; 5.759 thôn, xóm, làng, bản, phố” [59, tr. Trong đó có 11 huyện miền núi là: Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Lang Chánh, Mường Lát, Như Thanh, Như Xuân, Ngọc Lặc, Quan Hoá, Quan Sơn, Thạch Thành, Thường Xuân; 5 huyện ven biển là: Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Nga Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia; 8 huyện đồng bằng trung du là: Đông Sơn, Hà Trung, Nông Cống, Thiệu Hoá, Yên Định, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc; thành phố Thanh Hoá và 2 thị xã: Bỉm Sơn và Sầm Sơn. Khái quát về đấu tranh giành và giữ vững chính quyền ở Thanh Hoá (1945 – 1946) Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam đưa đất nước ta bước sang giai đoạn mới.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau một thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, ngày 29/7/1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã triệu tập 11 đại biểu của các Chi bộ Hàm Hạ (Đông Sơn), Thiệu Hoá, Thọ Xuân tiến hành Hội nghị tại nhà đồng chí Lê Văn Sĩ làng Yên Trường (xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân) quyết định thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá, Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 3 đồng chí: Lê Thế Long, Vương Xuân Cát, Lê Văn Sĩ. Đồng chí Lê Thế Long được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá.