mở đầu), phần nội dung chính (gồm ba chương) và phần kết luận. Phần dẫn nhập gồm sáu mục: Lý do nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc luận văn, những đóng góp của luận văn. Ở phần này chúng tôi trình bày ba lý do chính để chọn và thực hiện đề tài cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Để có được kết quả 9 hiện tại, chúng tôi đã tìm hiểu những nghiên cứu của các tác giả khác liên quan trực tiếp đến đề tài, qua đó giúp cho việc nhìn nhận vấn đề khách quan hơn.
Cũng ở phần này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là cảm quan hậu hiện đại, còn phạm vi nghiên cứu là hai tác phẩm chính của Hồ Anh Thái (SBC là săn bắt chuột, Dấu về gió xóa) và những tác phẩm khác của ông, cũng như các tác phẩm/tác giả khác trong văn học đương đại Việt Nam. Ở mục phương pháp nghiên cứu, chúng tôi chọn bốn phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi xem là phù hợp với hướng triển khai của luận văn. Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi luôn mong mỏi và hy vọng có thể đóng góp một phần nào vào việc diễn giải và đánh giá cảm quan hậu hiện đại và về tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Dựa trên cái nhìn độc lập kết hợp với việc tiếp thu những kết quả nghiên cứu có trước, chúng tôi cũng hi vọng luận văn có thể góp phần gợi mở các hướng nghiên cứu chuyên sâu về hậu hiện đại cũng như các lối viết đột phá, cống hiến của các nhà văn đương đại Việt Nam.
Phần nội dung chính gồm 3 chương, trong đó: Chƣơng một: Cảm quan hậu hiện đại và tiểu thuyết đương đại Việt Nam. Chương này tập trung giới thuyết và diễn giải, đánh giá về cảm quan hậu hiện đại (trong tương quan với hậu hiện đại và hiện đại chủ nghĩa) ở bình diện quan niệm. Tiếp đó, luận văn xác nhận những quan niệm về văn chương, về hoạt động sáng tạo của Hồ Anh Thái – những vấn đề cốt lõi thể hiện cảm quan hậu hiện đại trong sáng tác của nhà văn này, từ đó làm tiền đề chắc chắn đề triển khai những vấn đề cụ thể ở chương hai. Chƣơng hai: Cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái: vấn đề thực tại và con người.
Chương này trình bày và diễn giải một số vấn đề mới mẻ so với những nghiên cứu trước về sáng tác của Hồ Anh Thái, đó là: vấn đề thực tại trình diễn, thực tại hình dung, vấn đề người quan sát và đối tượng được quan sát, vấn đề sự trải nghiệm quyền lực và nguyên lý hoạt động của vũ trụ qua biểu tượng mandala, qua đó thấy được cảm quan hậu hiện đại có nhiều điểm độc đáo trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. 10 Chƣơng ba: Cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái: những phương thức biểu hiện chính. Chương này tập trung làm rõ việc Hồ Anh Thái sử dụng các phương thức carnaval hóa văn học và vận dụng trò chơi, nhất là trò chơi kết cấu và trò chơi thể loại (tích hợp, mờ hóa thể loại), từ đó có thể xác định thêm rằng, tiểu thuyết là thể loại tự do nhất, cũng là mảnh đất màu mỡ cho lối viết hậu hiện đại. Phần kết luận: Tổng kết quá trình nghiên cứu của luận văn, một lần nữa, chúng tôi cho rằng những phương thức mà Hồ Anh Thái sử dụng không phải là những phương pháp sáng tác mà có thể xem là các thao tác của văn học hậu hiện đại, chúng không là duy nhất, mà đã và đang tồn tại trong các trào lưu văn học khác.
Những thao tác hay những cách thức đó gây cảm giác về sự lưng chừng, đôi khi gây nhiễu như chính bản thân từ “hậu hiện đại”, nhưng từ đó cũng phải thừa nhận rằng lối viết của Hồ Anh Thái và của một số nhà văn đương đại khác là có đóng góp, góp phần quan trọng trong việc làm mới tiểu thuyết đương đại Việt Nam. Những đóng góp của luận văn Trước hết, chúng tôi cố gắng đánh giá, bàn giải về lý thuyết liên quan đến hậu hiện đại và cảm quan hậu hiện đại rõ ràng hơn và ít nhiều có tính phát hiện. Luận văn cũng đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề độc lập và có tính gợi mở. Thứ hai, Luận văn đưa ra cái nhìn khá tổng thể về Hồ Anh Thái và tiểu thuyết của ông với việc xem cảm quan hậu hiện đại như một đặc tính nổi trội.
Bên cạnh đó, luận văn đưa đến cái nhìn đa diện đối với tiểu thuyết đương đại Việt Nam, các nhà văn và tác phẩm cùng thời với Hồ Anh Thái. Thứ ba, từ tính chất gợi mở ấy, Luận văn hé lộ hi vọng có thể triển khai những đề tài khác liên quan đến vấn đề hậu hiện đại trong văn học đương đại Việt Nam, hoặc các xu hướng chứa đựng nhiều cách tân, thử nghiệm, cống hiến khác. 11 12 CHƢƠNG 1: CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Giới thuyết về cảm quan hậu hiện đại 1.
Cảm quan là gì? Trong y học, từ “cảm quan” trong thuật ngữ “chỉ tiêu cảm quan” là những yếu tố liên quan đến màu, mùi, vị có thể cảm nhận được bằng giác quan của con người như thị giác, thính giác, khướu giác, xúc giác, vị giác. Trong thực phẩm, từ “cảm quan” được dùng ở thuật ngữ “phương pháp cảm quan” cho rằng đó là “kỹ thuật sử dụng các cơ quan cảm giác của con người để tìm hiểu, mô tả và định lượng các tính chất cảm quan của một số sản phẩm thực phẩm như màu sắc, hình thái, mùi vị và cấu trúc”. Do vậy, phân tích cảm quan hay phương pháp cảm quan thể hiện mức độ nhạy cảm đối với thức ăn, từ đó đánh giá được món ăn ngon ra sao, việc này không tuân thủ sát sao những lý thuyết hay quy trình về việc chế biến thực phẩm, nên mức độ cảm nhận món ăn như thế nào rất khác nhau ở mỗi người (một số trường hợp nhiều người cảm nhận giống hoặc gần giống nhau). Hiện nay có khái niệm “cảm quan viên” để chỉ người làm công việc kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua các giác quan, những công việc mà máy móc hay các thiết bị công nghệ không hoặc khó làm được; những kết quả có được từ cảm quan có thể giúp phát hiện những đặc điểm thú vị, có ích cho việc cải tiến sản phẩm, phục vụ khách hàng tốt hơn.
Trong tiếng Anh có các từ liên quan đến cảm quan như: sense, organoleptic, feeling (giống từ sens trong tiếng Pháp). Theo từ điển wikipedia, cảm quan là những trải nghiệm của cá nhân thông qua giác quan. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt5 cho rằng cảm quan “là bộ phận cơ thể chuyên tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài (cơ quan cảm giác)”. Cảm quan là những trải nghiệm cảm giác của từng cá nhân.
Bởi vậy, cảm quan của từng cá nhân mang đậm dấu ấn nhận thức bằng cảm tính, trực quan, cảm giác. Nội hàm của cảm quan là tinh thần. Trong lịch sử, từ cảm 5 Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 194. 13 quan đã tự biến đổi từ kết quả thu nhận của các giác quan đến sự tổng hợp các giác quan.
Jean Chevalier, Alain Gheerbrant trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới6 nói đến thuật ngữ “sens esthétique”, Phạm Vĩnh Cư dịch là “cảm quan thẩm mỹ”, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì cảm quan mang nghĩa tổng hợp, thiên về tinh thần nên được dùng nhiều trong tôn giáo, thuật ngữ “cảm quan tôn giáo” mà sau này được dùng gần gũi hơn là trực cảm tâm linh. Trong triết học, cảm quan được gắn với kinh nghiệm, đối lập với duy lý đề cao lý tính và logic trong nhận thức sự vật, hiện tượng. Trong lịch sử nhân loại, những ý kiến trái chiều về việc tuyệt đối hóa kinh nghiệm hay lý tính đã tốn không ít giấy mực.
Tuy nhiên ở đây, chúng tôi muốn nhắc lại một số quan điểm đề cao kinh nghiệm, cảm giác: Socrate nhấn mạnh con người hãy tự biết mình7; Hegel cho rằng ý thức con người là quan trọng nhất, là nguồn gốc của mọi nhận thức, ý thức luôn vận động và biến đổi; D. Hume coi cảm giác là nguồn gốc tuyệt đối của nhận thức, cảm giác này đề cao những ấn tượng của mỗi cá nhân; Jean Jacques Rousseau đề cao cảm giác luận “tồn tại đối với chúng ta, đó là cảm nhận, sự cảm nhận của chúng ta rõ ràng là có trước sự hiểu biết và chúng ta có cảm xúc trước khi có ý tưởng”8; V. Lenin nói con đường để đi đến tư duy thực tiễn phải đi qua tư duy trừu tượng, mà con đường đến tư duy trừu tượng phải đi từ trực quan sinh động. Như vậy cảm quan không đơn thuần chỉ là thu nhận, tổng hợp mọi thứ bên ngoài vào, mà còn là để sáng tạo thế giới thông qua sự kết hợp, tương quan và đối lập giữa các mặt khách quan và chủ quan, ý thức và vô thức, duy lý và duy cảm.
Nói cách khác, cảm quan phản ánh một thế giới được nhìn thấy nhưng không hoàn toàn là thế giới như nó vốn có. 6 Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (Phạm Vĩnh Cư chủ biên, dịch, 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 35 7 Theo Aristotle kể lại thì câu cách ngôn “hãy tự biết mình” là của Solon (638-558 TCN- một trong bảy nhà thần thái Hy Lạp cổ đại) viết và được khắc trên bia đền Apollo ở Delphes, Socrates đến thăm đền và bị ấn tượng với lời khắc trên bia này, từ đó về sau triết học của ông chịu chi phối mạnh mẽ bởi tinh thần của câu cách ngôn ấy 8 Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết, Cảm quan và cảm quan nghệ thuật, tạp chí Sông Hương, link dẫn: http://tapchisonghuong.vn/tap-chi/c337/n20975/Cam-quan-va-cam-quan-nghe-thuat.html, đăng ngày 17/9/2015 14 Trong lĩnh vực văn học, cảm quan được sử dụng và khai thác tối đa trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, cụ thể là lối tiếp nhận theo trường phái phê bình Ấn tượng (Impressionist criticism), hay trường phái phê bình Hồi ứng người đọc (Reader-response criticism).
Ngoài ra, khi tiếp nhận tác phẩm, người đọc dùng cảm quan để vừa phân tích, lý giải, vừa đưa ra “văn bản mới” bên cạnh “tác phẩm gốc” của nhà văn, cảm quan có lúc hiển lộ, có lúc ẩn giấu trong các biểu tượng, ẩn dụ, hoán dụ. của văn bản, chủ thể sáng tạo hoặc của chủ thể tiếp nhận.