MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, sự phát triển vƣợt bậc của kinh tế - chính trị - văn hóa và đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin đã đem lại những thành tựu đáng ghi nhận cho nƣớc ta. Điều này làm cho xã hội ngày càng văn minh và hiện đại hơn, đời sống con ngƣời cũng vì thế mà ngày càng đƣợc cải thiện và nâng cao. Cùng với xu thế hội nhập đó, đòi hỏi thế hệ trẻ cũng phải thay đổi để thích ứng đƣợc với sự biến đổi toàn cầu.
Chính vì vậy quan niệm, lối sống của giới trẻ hiện nay cũng đã thay đổi rất nhiều so với quan niệm của xã hội truyền thống, một trong số đó là sự thay đổi thái độ đối với mối quan hệ giữa nam và nữ, về tình dục, hôn nhân và gia đình. Theo báo cáo từ Vụ Sức khỏe Bà mẹ & Trẻ em - Bộ Y tế công bố vào tháng 9 năm 2017, mỗi năm nƣớc ta có khoảng 250.000 ca nạo phá thai. Tuy nhiên, đó chỉ là con số tại một cơ sở y tế công lập đƣợc công bố. Thực tế trên cả nƣớc vẫn còn hàng nghìn các phòng khám đƣợc cấp phép thực hiện thủ thuật phá thai và chƣa kể những phòng khám thực hiện thủ thuật chui, trái với quy định pháp luật mà không có thống kê cụ thể.
Chƣa dừng lại ở đó, trong số khoảng 300.000 ca nạo phá thai đƣợc công bố ở Việt Nam có đến 80% tỷ lệ phá thai trên 12 tuần tuổi (thai to). Đáng chú ý, trong số các ca phá thai ở Việt Nam theo số liệu của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam công bố có đến 60- 70% là sinh viên, học sinh ở độ tuổi 15- 19 tuổi, 20- 30% là phụ nữ chƣa kết hôn. Nhƣ vậy, con số nạo phá thai theo chỉ định của bác sĩ vì những lý do dị tật thai nhi chiếm % rất nhỏ. Cũng trong năm 2017, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống kê thế giới có gần 60 triệu ca phá thai mỗi năm.
Trong đó có hơn 17,1 triệu ca phá thai không an toàn, tự ý dùng thuốc hoặc ngƣời hỗ trợ phá thai thiếu kĩ thuật. Có hơn 97% các ca phá thai diễn ra tại các nƣớc Châu Phi, Châu Á và khu vực Mỹ Latin. Trong khi đó con số này tại các quốc gia phƣơng Tây lại rất hạn hẹp. Nƣớc có số ca phá thai cao nhất toàn cầu là Trung Quốc, thứ hai là Nga, Việt Nam ở vị trí thứ ba.
Hai vị trí 4, 5 thuộc về Mỹ và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 800.000 ngƣời điều trị các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục nhƣ HIV, lậu, giang mai, rận mu, sùi mào gà, chlamydia… và đáng báo động là 40% trong đó là thanh thiếu niên. Độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở vị thành niên Việt Nam ngày càng sớm, nhƣng kiến thức của vị thành niên về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây qua đƣờng tình dục khác vẫn còn rất hạn chế, chỉ có khoảng 20,7 % sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên. Thực trạng này ảnh hƣởng rất tiêu cực đến sức khỏe, lối sống và hạnh phúc tƣơng lai của thanh niên, sinh viên nói riêng và ảnh hƣởng đến chất lƣợng của nguồn nhân lực Việt Nam nói chung.
Xét về khía cạnh tâm sinh lý, sinh viên là lứa tuổi bƣớc vào giai đoạn trƣởng thành về mặt cơ thể, sự phát triển mạnh mẽ về xúc cảm tình cảm, đặc biệt là tình yêu và tình dục. Bên cạnh đó đây cũng chính là giai đoạn con ngƣời bộc lộ nhu cầu tự khẳng định bản thân rất cao và xuất hiện khá nhiều những mâu thuẫn trong thái độ, hành vi và tình cảm. Sinh viên là bộ phận trí thức của xã hội và đang trên con đƣờng xây dựng sự nghiệp, là lực lƣợng nòng cốt kiến tạo nên sự phát triển của đất nƣớc. Tuy nhiên những số liệu thống kê lại cho thấy những tệ nạn xã hội tồn tại ở sinh viên lại không nhỏ.
Những con số đáng báo động ở trên cho thấy đây là hệ quả của những quan điểm, lối sống lệch lạc mà một trong số đó là những hành vi tình dục không an toàn (hành vi tình dục nguy cơ). Về mặt lý luận, trên thế giới vấn đề về hành vi tình dục nguy cơ hết sức đƣợc quan tâm vì tính thực tiễn của nó, đặc biệt là ở đối tƣợng thanh thiếu niên. Thực tế cho thấy trên thế giới việc tiến hành nghiên cứu về các hành vi tình dục nguy cơ đƣợc thực hiện từ rất lâu và vô cùng phong phú. Tuy nhiên, trong nƣớc, dù đây là vấn đề đang tồn tại nhức nhối và để lại những hậu quả nghiêm trọng nhƣng lại chƣa có nhiều sự quan tâm nghiên cứu, chủ yếu mới đƣợc các tác giả nghiên cứu dƣới khía cạnh y khoa mà chƣa có các nghiên cứu từ góc độ tâm lý học.
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn “Hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực trạng hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên, những yếu tố ảnh hƣởng tới hành vi tình dục nguy cơ đó. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiểu biết về hành vi tình dục nguy cơ, xây dựng đời sống tình dục an toàn ở sinh viên.
Đối tƣợng nghiên cứu Thực trạng hành vi tình dục nguy cơ và các yếu tố ảnh hƣởng đến các hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên. Khách thể nghiên cứu - Nghiên cứu khảo sát trên 240 sinh viên đang theo học tại 6 trƣờng đại học trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. - Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 2 sinh viên đang theo học đại học trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận: + Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tình dục nguy cơ.
+ Xây dựng các khái niệm công cụ của đề tài: hành vi, tình dục, nguy cơ, sinh viên, hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên. - Nghiên cứu thực tiễn: + Chỉ ra thực trạng các hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên. + Sự khác biệt trong hành vi tình dục nguy cơ giữa các nhóm mẫu khách thể khác nhau. + Những yếu tố ảnh hƣởng tới các hành vi tình dục nguy cơ.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiểu biết về hành vi tình dục nguy cơ, xây dựng đời sống tình dục an toàn ở sinh viên. Giả thuyết khoa học - Các hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên tƣơng đối đa dạng, trong đó phổ biến là sinh viên không sử dụng các biện pháp bảo vệ an toàn. - Có sự khác biệt trong hành vi tình dục nguy cơ giữa các nhóm mẫu khác nhau nhƣ: giới tính, xu hƣớng tính dục, tình trạng quan hệ, khóa học, xu hƣớng tính cách, ngành học, nơi ở, có hay không tiếp xúc nội dung khiêu dâm. - Có nhiều yếu tố tác động tới các hành vi tình dục nguy cơ của sinh viên, trong đó yếu tố quan điểm về tình yêu, tình dục của sinh viên có tác động mạnh nhất.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Giới hạn phạm vi địa bàn: 6 trƣờng đại học tại Hà Nội. - Giới hạn phạm vi nội dung: + Về thực trạng: Nghiên cứu giới hạn ở các hành vi tình dục nguy cơ về mặt sức khỏe. + Về các yếu tố ảnh hƣởng: Nghiên cứu giới hạn ở 5 yếu tố: sự gắn kết với cha mẹ, môi trƣờng sống, quan điểm về tình yêu tình dục, nhận thức về tình dục nguy cơ, lối sống của bản thân. Các phƣơng pháp nghiên cứu Trong đề tài này, tôi sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu chính sau đây: - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi - Phƣơng pháp phỏng vấn sâu - Phƣơng pháp thống kê toán học SPSS 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, vấn đề hành vi tình dục nguy cơ đã đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, lĩnh vực cũng nhƣ đối tƣợng khách thể khác nhau nhƣ trong y học, xã hội học, tâm lý học…Trong đó, phần lớn các nghiên cứu đƣợc tiến hành trên lát cắt ngang và đã chỉ ra đƣợc một bức tranh toàn cảnh về các hành vi tình dục nguy cơ cũng nhƣ hệ quả của nó. Qua quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng các nghiên cứu phần lớn đi theo ba hƣớng chính: thực trạng hành vi tình dục nguy cơ, các yếu tố tác động tới hành vi tình dục nguy cơ và các nghiên cứu nhằm đi sâu chỉ ra cách thức để hạn chế/giảm thiểu hành vi tình dục nguy cơ. Dƣới đây chúng tôi xin đƣợc tổng quan lại những nghiên cứu tiêu biểu: Nghiên cứu theo hướng thực trạng hành vi tình dục nguy cơ: Năm 2016, nhóm tác giả Azwihangwisi Helen Mavhandu-Mudzusi đã nghiên cứu “Tỷ lệ các hành vi tình dục nguy cơ giữa các sinh viên đại học tại Đại học Jigjiga, Ethiopia”. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy một con số khá cao trong thực trạng quan hệ tình dục của sinh viên, trong đó có nhiều hành vi tình dục nguy cơ.
Có tới 70,53% số ngƣời trả lời đã từng quan hệ tình dục. Trong đó 54,8% những ngƣời đã từng quan hệ tình dục có quan hệ tình dục trong vòng 3 tháng trƣớc khi nghiên cứu. Có tới 30,14% có quan hệ tình dục với một ngƣời khác với đối tác hiện tại của họ trong 12 tháng qua. Chỉ có 59,6% ngƣời đƣợc hỏi có sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất của họ.
Có tới 31,97% nam giới có hoạt động quan hệ tình dục trả tiền và 20,25% báo cáo rằng họ hoặc bạn tình của họ sử dụng rƣợu trƣớc lúc quan hệ. Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy sinh viên tham gia vào các hành vi tình dục nhƣ trên có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.