Chương 1. Cơ sở lý luận về hành vi thích nghi Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu hành vi thích nghi của trẻ từ 3 - 5 tuổi 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI THÍCH NGHI 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Việc nghiên cứu HVTN trên thế giới có thể được chia thành 3 hướng nghiên cứu chính: * Hướng thứ nhất nghiên cứu HVTN đối với nghề nghiệp và lao động.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sự thích nghi như là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới. Đồng thời, ông cũng nêu lên lý thuyết về sự thích nghi nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại. Tuy nhiên, ông cũng chỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp nói chung chứ chưa đi sâu vào một nghề cụ thể.
Ở một hình thái khác, Holland đã nghiên cứu sự phù hợp của các hình thái, các kiểu nhân cách với những môi trường nghề nghiệp tương ứng. Đây là cơ sở cho công tác hướng nghiệp. Theo ông sự phụ thuộc vào tính cách với môi trường nghề tương ứng sẽ hạn chế rất nhiều những khó khăn mà con người gặp phải trong công việc, nói khác đi sự phù hợp này sẽ đẩy nhanh quá trình thích ứng nghề. * Hướng thứ hai nghiên cứu hành vi thích nghi với môi trường văn hóa và xã hội.
Có thể nói nghiên cứu thích nghi văn hóa chiếm một mảng lớn trong hệ thống các nghiên cứu về thích nghi. Điều này xuất phát từ thực tiễn xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự di cư của con người. Cùng với sự di 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển dân cư đến một môi trường mới là hàng loạt các vấn đề xã hội lẫn vấn đề tâm lý cá nhân nảy sinh do thiếu thích nghi văn hóa. Những nghiên cứu này được thực hiện với nhiều nội dung khác nhau, với những nhóm dân cư khác nhau.
Vấn đề sốc văn hóa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, chẳng hạn như: P. và mặc dù, mỗi tác giả đưa ra những giai đoạn khác nhau của sốc văn hóa nhưng họ đều cho rằng triệu chứng của sốc văn hóa rất đa dạng: từ sự bất an thường xuyên về chất lượng thực phẩm, nước uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc với người khác, mất ngủ, thiếu tự tin. Ở một khía cạnh khác, một số nhà tâm lý đã nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên nước ngoài khi học tập trong môi trường văn hóa mới. Anumonye tiến hành phỏng vấn 150 sinh viên châu Phi học tập ở Anh và đưa ra hàng loạt những nguyên nhân gây hẫng hụt của sinh viên trong môi trường văn hóa mới.
Trong số này, những nguyên nhân về văn hóa chiếm một tỉ lệ lớn. Theo ông, chính sự không thích ứng với môi trường văn hóa khiến sinh viên châu Phi gặp nhiều những khó khăn trong quá trình học tập tại Anh. Và hệ quả của nó là những rắc rối nảy sinh trong đời sống tâm lý của họ. Một số nhà tâm lý học khác hướng sự chú ý vào vấn đề sức khỏe tinh thần khi con người chuyển sang môi trường xã hội mới, nền văn hóa mới.
Chẳng hạn, khi tiến hành khảo sát sức khỏe tinh thần ở sinh viên Anh và sinh viên nước ngoài tại Hồng Kông. Still nhận thấy tỉ lệ sinh viên Anh có vấn đề về tâm lý là 14%, trong khi tỉ lệ này ở sinh viên nước ngoài luôn cao hơn: Aicập: 22.1%; Thổ Nhĩ Kỳ: 21%; Ấn Độ: 17. Những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với những chuẩn mực mới và việc không thích ứng với nó sẽ dần đến những hậu quả tiêu cực trong đời sống và hoạt động của con người. * Hướng thứ ba các nghiên cứu hành vi thích nghi với hoạt động học tập Năm 1962 - 1964, tác giả B.Baxrusev đã nghiên cứu quá trình thích nghi học tập của sinh viên.
Các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của động cơ, thái độ trước khi vào học của sinh viên đối với sự thích nghi học tập. Tất cả các sinh viên đã nhập trường được chia thành ba nhóm, nghi với ba loại động cơ, thái độ học tập là tích cực, bình thường và yếu. Các tác giả đã chỉ ra kết quả thích nghi học tập của ba nhóm sinh viên hoàn toàn khác nhau. Qua đó, họ đưa ra những giải pháp đẩy nhanh quá trình thích nghi.
* Hướng nghiên cứu tổng hợp Trong các nhóm đối tượng nghiên cứu về hành vi thích nghi, các nhà khoa học dành sự quan tâm đặc biệt đến trẻ em. Các nghiên cứu về hành vi thích nghi của trẻ, tập trung theo hướng thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội và học tập. Với khách thể nghiên cứu là trẻ em mầm non, hướng nghiên cứu mang tính tổng hợp cả hai xu hướng trên. Vào khoảng năm 1930, người ta vẫn quan tâm chủ yếu vào các kết quả trắc nghiệm đo trí lực, cho tới khi Edgar Doll đưa ra lý luận là mức thành thục về mặt xã hội, mà giờ đây được coi là khả năng thích ứng hành vi, phải được xem xét đầu tiên khi tiến hành chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ.
HVTN là một nội dung quan trọng trong quá trình nghiên cứu về sức khỏe tâm thần. Năm 1959, Hiệp hội khuyết tật trí tuệ và khuyết tật phát triển Hoa Kì - American Association on Intellectual and Developmental Disabilities (gọi tắt là AAIDD), đã đưa thuật ngữ HVTN vào khái niệm khuyết tật trí tuệ, nhằm bổ sung cho quá trình đo trí tuệ. Hành vi thích nghi là chất lượng của những biểu hiện thường ngày khi con người phải đối phó với các đòi hỏi thuộc môi 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường. Tháng 9 năm 1964, tổ chức này đã chứng minh chức năng của HVTN đối với các vấn đề tâm thần, trên cơ sở đó thiết lập cách chẩn đoán và phân loại khuyết tật trí tuệ mới không chỉ dựa trên chỉ số trí tuệ.
Trong tài liệu "Chẩn đoán, phân loại và Hệ thống hỗ trợ của AAMR" năm 1992 đã nêu lên sự cần thiết phải tăng cường hỗ trợ về hành vi thích nghi cho đối tượng chậm phát triển trí tuệ (Luckasson và cộng sự,1992). Trong hệ thống này, 10 lĩnh vực sau đây được coi là quan trọng để chẩn đoán chậm phát triển tâm thần: giao tiếp, tự chăm sóc, cuộc sống gia đình, kỹ năng xã hội, sử dụng tiện ích tại cộng đồng, sức khoẻ và độ an toàn, học tập, giải trí và lao động. Các khả năng thích nghi giúp cho con người có được lối sống khá bình thường. Phần lớn những người có khả năng cư xử bình thường trong xã hội thì đều có thể giải quyết được tốt các đòi hỏi của môi trường sống.
Tuy vậy, những người chậm phát triển trí tuệ thường khó thích nghi, do đó kém về mặt tương tác xã hội, khó được chấp nhận cũng như khó hoà nhập. Mức yếu kém về mặt thích nghi kết hợp với hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình cần được chẩn đoán để xác định hiện tượng chậm phát triển trí tuệ. Theo bảng phân loại DSM - IV (sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần - IV 1997, Hiệp hội tâm thần Mỹ), khả năng thích nghi đề cập đến mức độ đáp ứng những đòi hỏi chung của cuộc sống và mức độ đáp ứng những tiêu chuẩn độc lập cá nhân - những tiêu chuẩn mà những người cùng tuổi đạt được trong cùng hoàn cảnh văn hoá, xã hội và môi trường cộng đồng Càng ngày, tầm quan trọng của việc chẩn đoán, đánh giá HVTN của người có khuyết tật trí tuệ bên cạnh chẩn đoán chỉ số trí tuệ càng được khẳng định. Vì vậy, việc nghiên cứu và cho ra đời các thang đo HVTN trở nên cấp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Trong những năm gần đây, trên thế giới phổ biến sử dụng rộng rãi các thang đo như: Thang đo hành vi thích nghi sử dụng trong nhà trường – Bản biên tập 2 (Adaptive Behavior Scale–School–Second Edition/ABS- S:2) của Lambert, N. Thang đánh giá hành vi độc lập – Bản điều chỉnh (Scales of Independent Behavior – Revised/SIB-R) của Bruininks, Woodcock, Weatherman và Hill (1996) (dẫn theo Wells, K. và cộng sự) [38]. Dù được sử dụng cho những mục đích khác nhau, với độ tuổi, mức độ khuyết tật và môi trường khác nhau, nhưng những thang đo này đều là những phương tiện hiệu quả cho việc xây dựng các chương trình giáo dục trẻ KTTT.
Tất cả những nghiên cứu này đem đến một cái nhìn đầy đủ hơn về bản chất của HVTN, làm cơ sở để việc đánh giá HVTN trở nên chi tiết hơn. Trong bối cảnh chung đó, HVTN của trẻ cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài. Những nghiên cứu này được tạm chia thành 2 hướng: Một là nghiên cứu đánh giá chung về mức độ HVTN và tương quan của nó với một số yếu tố ảnh hưởng. Hai là nghiên cứu đánh giá từng lĩnh vực HVTN của trẻ.
Nghiên cứu đánh giá chung về mức độ HVTN và tương quan của nó với một số yếu tố ảnh hưởng Điểm chung của những kết quả trong hướng nghiên cứu này là đều cho rằng hầu hết các trẻ bình thường đạt được các mốc phát triển theo đúng độ tuổi, còn với trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần mức độ phát triển thường 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chậm và không đồng đều giữa các khu vực khác nhau, sự phát triển khác nhau ở mỗi trẻ tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Như nghiên cứu của G. van Berckelaer-Onnes (2010) trên 984 trẻ có Hội chứng Downtừ 0 – 12 tuổi ở Hà Lan bằng thang đo HVTN Vineland (phiên bản Hà Lan) cho thấy trẻ có Hội chứng Down đạt được mức độ KN thích nghi chậm hơn trẻ bình thường [31]. Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá chung về HVTN, các tác giả đã tìm tòi sự tương quan hay sự thay đổi của HVTN theo một số yếu tố tác động, ảnh hưởng như thần kinh, sự giáo dục gia đình, nhà trường, môi trường văn hóa… b.
Nghiên cứu đánh giá từng lĩnh vực HVTN của trẻ. Một xu hướng cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới khi nghiên cứu về HVTN của trẻ là phân tích, đánh giá từng lĩnh vực HVTN để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của trẻ.