CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY 1. TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm hàng rào kỹ thuật trong thương mại 1. Khái niệm Trong thương mại quốc tế tồn tại hai loại hàng rào đó là hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Mục đích ra đời của cả hai loại hàng rào này đều hướng đến việc bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo vệ người tiêu dùng, môi trường và người lao động… Mặc dù các quốc gia đều hướng đến hội nhập kinh tế quốc tế nhưng bởi nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan mà đặc biệt là do sự khác nhau trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nên những loại hàng rào này ngày càng được tăng cường cũng như ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Đối với hàng rào thuế quan và một số hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu (quotas), giấy phép nhập khẩu – các loại hàng rào quan trọng này mang tính chất bảo hộ trực tiếp, rõ ràng được sử dụng phổ biến ở mọi lĩnh vực, ngành nghề. Tuy nhiên để tham gia vào các khối kinh tế, các khu vực tự do thương mại, các quốc gia đã dần cắt giảm hay thậm chí là tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các loại hàng rào này. Nhưng việc cắt giảm những loại hàng rào trên cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia sẽ gặp khó khăn hơn khi phải đối mặt với một loại hàng rào bảo hộ với tính chất gián tiếp được gọi là “hàng rào kỹ thuật”.
Hàng rào kỹ thuật – một loại hàng rào phi thuế quan là một thuật ngữ có rất nhiều cách định nghĩa tùy theo từng quan điểm khác nhau. Rất nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chính thống cho thuật ngữ này. Trong ấn phẩm chuẩn bị cho khóa học “Giải quyết tranh chấp trong đầu tư, sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế” do UNCTAD tổ chức, Anther E.Appleton cho rằng “Hàng rào kỹ thuật trong thương mại là thuật ngữ đề cập đến việc sử dụng các quy định nội địa về quy trình (sản xuất) như một biện pháp để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước”. Một định nghĩa 7 khác được tác giả Kristina Kloiber sử dụng để mô tả các rào cản kỹ thuật trong thương mại như sau: “Thuật ngữ rào cản kỹ thuật đề cập đến các tiêu chuẩn của sản phẩm có sự khác biệt giữa các quốc gia này với quốc gia khác.
Những tiêu chuẩn này có tác dụng hạn chế luồng thương mại. Các tiêu chuẩn này là các đặc điểm kỹ thuật của bất kỳ đặc tính hay quá trình sản xuất nào của sản phẩm do các thể chế công cộng hay tư nhân xác lập. Mặc dù việc đáp ứng các đặc điểm kỹ thuật này có thể không bắt buộc nhưng thị trường sẽ trừng phạt những nhà sản xuất không tuân theo các tiêu chuẩn này…bằng cách không cho phép bán những hàng hóa này hoặc không cho phép mua những hàng hóa này tại mức giá đề nghị. Các tiêu chuẩn kỹ thuật yêu cầu sản phẩm phải đáp ứng những yêu cầu nhất định trước khi được phân phối trên thị trường.
Những đặc điểm như vậy sẽ trở thành rào cản thương mại khi được quy định khác nhau giữa các quốc gia nhằm bảo hộ thị trường nội địa khỏi cạnh tranh từ bên ngoài.” Còn trong Từ điển thuật ngữ thương mại trực tuyến của Hệ thống thông tin ngoại thương (SICE) do Tổ chức các quốc gia châu Hoa Kỳ (OAS) thiết lập thì khái niệm “Hàng rào kỹ thuật trong thương mại” được định nghĩa: “Một tiêu chuẩn hay quy chuẩn kỹ thuật, hoặc một quy trình đánh giá sự phù hợp của các tiêu chuẩn hay quy chuẩn kỹ thuật sẽ trở thành một hàng rào kỹ thuật trong thương mại nếu được sử dụng với mục đích gây cản trở đối với thương mại quốc tế hơn là với các mục đích hợp pháp khác.” [11] Cách tiếp cận này rất gần với cách tiếp cận của WTO trong Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, WTO đã định nghĩa rằng “Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (technical barriers to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng với hàng hóa nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó.” [9] Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khỏe con người, môi trường, an ninh… Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hóa của mình và hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ cho sản xuất 8 trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “hàng rào kỹ thuật đối với thương mại”. Yếu tố cơ bản cấu thành hàng rào kỹ thuật Phụ lục I trong Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại của WTO đưa ra 3 yếu tố cấu thành một hàng rào kỹ thuật như sau: [9] Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) Đây là những yêu cầu kỹ thuật mà các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ, là tài liệu chứa đựng đặc tính của sản phẩm hoặc quy trình và các phương pháp sản xuất có liên quan, gồm có các quy định về hành chính được áp dụng một cách bắt buộc.
Chúng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan riêng đến thuật ngữ chuyên môn, các biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu hoặc nhãn hiệu được áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất. Các quy định này là bắt buộc có nghĩa là nếu các sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng được các quy chuẩn kỹ thuật sẽ không được phép bán trên thị trường. Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) Đây là tài liệu được chấp nhận bởi một tổ chức được công nhận, đề ra để sử dụng chung và nhiều lần, các quy tắc, hướng dẫn, hoặc đặc tính của sản phẩm hoặc các quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm đó mà không có giá trị áp dụng bắt buộc. Nó cũng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan đến một trong các yếu tố như: thuật ngữ chuyên môn, các biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu hoặc nhãn hiệu được áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất.
Khác với quy chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn kỹ thuật này chủ yếu mang tính khuyến nghị, tức là hàng hóa nhập khẩu vẫn được phép bán trên thị trường ngay cả khi chưa đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật này trừ khi có những quy định riêng của từng quốc gia. Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hóa với các quy định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure) Quy trình này là bất cứ thủ tục nào được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định xem các yêu cầu có liên quan trong các quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật có được thỏa mãn hay không. Các quy trình đánh giá sự phù hợp bao gồm cả các quy trình lấy mẫu, thử 9 nghiệm và kiểm tra; đánh giá, thẩm định và đảm bảo sự phù hợp; đăng ký, công nhận và chấp nhận cũng như sự kết hợp giữa các thủ tục này. Việc hiểu rõ cấu thành của hàng rào kỹ thuật đối với thương mại là cách hiệu quả giúp các quốc gia đặt ra các hàng rào kỹ thuật cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng cũng như giúp các doanh nghiệp đưa sản phẩm xuất khẩu của mình vượt qua các hàng rào kỹ thuật này, từ đó vươn ra các thị trường nước ngoài một cách dễ dàng hơn.
Phân loại hàng rào kỹ thuật [7], [10] Trên thực tế, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại có ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất tới các doanh nghiệp xuất khẩu. Do đó, theo góc độ tiếp cận từ phía các doanh nghiệp, trong một quá trình sản xuất kinh doanh cần quan tâm đến các vấn đề sau: - Chất lượng sản phẩm - An toàn cho người sử dụng - Bảo vệ môi trường - Trách nhiệm xã hội - Chống gian lận thương mại Tương ứng với các vấn đề nêu trên, trong thương mại quốc tế hình thành nên năm loại hàng rào kỹ thuật: - Các quy định về chất lượng sản phẩm - Các quy định về an toàn cho người sử dụng - Các quy định liên quan đến môi trường - Các quy định về trách nhiệm xã hội - Các quy định về bình đẳng và chống gian lận thương mại 1. Các quy định về chất lượng sản phẩm Liên quan đến sản phẩm thì chất lượng có thể coi là vấn đề quan trọng nhất giúp sản phẩm có thể xâm nhập vào thị trường nước ngoài. Sự đòi hỏi về chất lượng sản phẩm của người tiêu dùng tỉ lệ thuận với sự phát triển của quốc gia mà họ đang sinh sống, với những quốc gia càng phát triển thì sự kì vọng và đòi hỏi về chất lượng sản phẩm lại càng cao.
Và thước đo cho chất lượng của một sản phẩm chính là giấy chứng nhận chất lượng. Đây có 10 thể coi là hàng rào đầu tiên đối với một sản phẩm khi gia nhập vào một thị trường mới. Các nước trên thế giới đều có những quy định riêng về chất lượng sản phẩm, tuy nhiên chất lượng là một vấn đề khá rộng và phức tạp, do đó để thống nhất trong việc ban hành các tiêu chuẩn nhằm mục đích dễ dàng hơn trong việc cấp giấy chứng nhận, rất nhiều tổ chức liên quan đã ra đời, trong đó có các cơ quan chuyên trách của mỗi quốc gia như Viện tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ ANSI (American National Standards Institue), Viện tiêu chuẩn Anh BSI (British Standards Institution), Tổ chức tiêu chuẩn Pháp ANFOR (Ascociaton Fraicaise de Normalisation), Ủy ban tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JISC (Japanese Industrial Standards Committee), …và các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế có uy tín trên thế giới như Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO (International Organization for Standardization), Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế IEC (International Electrotechnical Commission), Liên minh Viễn thông Quốc tế ITU (International Telecommunication Union), … Có thể nói quy định quốc tế phổ biến nhất hiện nay liên quan đến chất lượng sản phẩm là ISO 9000.