Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2001-2005, Việt Nam triển khai 18 chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước, đồng thời ngân sách các địa phương dành khoảng 60% tổng chi sự nghiệp khoa học cho các nhiệm vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính truyền thống mang nặng tính hình thức, kiểm soát chi tiết từng hóa đơn linh kiện và tạo ra hiện tượng đối phó trong thanh quyết toán. Nhằm tháo gỡ rào cản này, Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN được ban hành để triển khai chế độ khoán kinh phí. Dù vậy, sau 2 năm thực thi, tỷ lệ đề tài áp dụng cơ chế khoán vẫn ở mức rất thấp, nhiều địa phương và viện nghiên cứu gần như chưa triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện các hạn chế cốt lõi của Thông tư số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN, phân tích sự tác động của cơ chế tài chính đến hiệu quả nghiên cứu và triển khai (R&D), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách khoán kinh phí phù hợp với đặc thù lao động sáng tạo. Phạm vi nghiên cứu được xác định trong giai đoạn 2003-2008 (gồm 3 năm trước và 2 năm sau khi ban hành chính sách khoán), bao quát dữ liệu khảo sát thực tế tại 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng 7 viện nghiên cứu và 5 trường đại học lớn trên toàn quốc.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để chuyển đổi phương thức quản lý tài chính từ kiểm soát yếu tố đầu vào sang quản lý theo sản phẩm đầu ra. Đề tài mở ra định hướng giảm thiểu khoảng 70% thủ tục chứng từ hành chính rườm rà, bảo đảm quyền tự chủ tài chính 100% cho các nhà khoa học trong phạm vi dự toán được phê duyệt, nâng cao hiệu quả giải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước và thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về quản lý hoạt động Nghiên cứu và Triển khai (R&D) dựa trên Hướng dẫn Frascati 2002 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), phân định rõ 3 loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Nghiên cứu cũng kế thừa lý thuyết phân tích chính sách công của UNESCO và nguyên tắc tự chủ tài chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm:
- Hoạt động nghiên cứu và triển khai: Hệ thống sáng tạo nhằm gia tăng vốn tri thức và ứng dụng vào thực tiễn xã hội.
- Nhiệm vụ khoa học và công nghệ: Vấn đề khoa học cần giải quyết dưới dạng đề tài, dự án hoặc chương trình có sử dụng ngân sách nhà nước.
- Chính sách khoa học và công nghệ: Tập hợp các quy tắc, biện pháp lập pháp và hành pháp nhằm nâng cao, phân bổ và sử dụng hiệu quả tiềm lực khoa học quốc gia.
- Khoán kinh phí: Phương thức quản lý tài chính nhà nước giao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì sử dụng ngân sách được duyệt, gắn liền với trách nhiệm pháp lý và nghiệm thu sản phẩm cuối cùng mà không can thiệp sâu vào chi tiết chứng từ phát sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước 2002, Nghị định số 130/2005/NĐ-CP, Thông tư 45/2001/TTLT/BTC-BKHCNMT, Thông tư 44/2007/TTLT/BTC-BKHCN, Thông tư 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN) và kinh nghiệm quốc tế tại Cộng hòa Liên bang Đức, Tổ chức PLAN, Cơ quan Phát triển Pháp (AFD).
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2008. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 139 phiếu điều tra hợp lệ từ các chủ nhiệm đề tài, nhà khoa học và cán bộ quản lý tài chính. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng trên 6 nhóm lĩnh vực chuyên môn: Khoa học tự nhiên (30 mẫu), Khoa học xã hội (5 mẫu), Khoa học kỹ thuật và công nghệ (32 mẫu), Y học (16 mẫu), Nông - lâm - ngư nghiệp (44 mẫu) và lĩnh vực khác (12 mẫu). Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ thực thi chính sách và giải thích rõ bản chất các xung đột lợi ích giữa cơ quan quản lý tài chính và nhà nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tế trên 139 đối tượng tại các viện nghiên cứu, trường đại học và Sở Khoa học và Công nghệ cho thấy tỷ lệ thực hiện chính sách khoán kinh phí theo Thông tư 93 đạt mức rất thấp, trung bình chỉ đạt 19,4% (27/139 phiếu). Tỷ lệ này có sự phân hóa rõ nét giữa các lĩnh vực nghiên cứu:
- Lĩnh vực Khoa học xã hội: 0,0% đề tài thực hiện khoán (100% chưa áp dụng).
- Lĩnh vực Khoa học tự nhiên: 12,0% thực hiện khoán (88,0% chưa áp dụng).
- Lĩnh vực Khác: 16,7% thực hiện khoán (83,3% chưa áp dụng).
- Lĩnh vực Khoa học kỹ thuật và công nghệ: 21,8% thực hiện khoán (78,2% chưa áp dụng).
- Lĩnh vực Nông - lâm - ngư nghiệp: 22,7% thực hiện khoán (77,3% chưa áp dụng).
- Lĩnh vực Y học: 31,3% thực hiện khoán (68,7% chưa áp dụng).
Về mức độ phù hợp của cơ chế quản lý tài chính hiện hành, 100% người được hỏi đều nhận định tồn tại điểm nghẽn: 64,0% đánh giá cơ chế quản lý tài chính còn một số bất cập, trong khi 36,0% khẳng định cơ chế tồn tại quá nhiều bất cập nghiêm trọng. Đáng chú ý, 42,5% ý kiến nhấn mạnh chế độ quyết toán cứng nhắc theo hóa đơn không tương thích với tính mới, tính phi kinh tế và độ rủi ro vốn có của hoạt động nghiên cứu khoa học.
Vấn đề định mức thù lao lao động trí tuệ cũng bộc lộ khoảng cách lớn. Trong giai đoạn 2001-2007, mức lương tối thiểu tăng từ 210.000 đồng lên 450.000 đồng (tăng 114,3%) và lạm phát tăng từ 0,8% lên 11,2%. Tuy nhiên, mức thù lao chuyên đề theo Thông tư 45 và Thông tư 44 vẫn rất thấp, không phản ánh đúng hao phí lao động sáng tạo. Mức chi trả hội đồng đánh giá nghiệm thu dù được nâng từ tối đa 150.000 đồng/báo cáo (Thông tư 45) lên 800.000 đồng/báo cáo (Thông tư 44) nhưng vẫn chưa tương xứng với trách nhiệm phản biện độc lập.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ không áp dụng khoán chiếm tới 80,6% bắt nguồn từ hai rào cản chính. Về phía cơ quan quản lý và Kho bạc Nhà nước, tâm lý e ngại mất kiểm soát nguồn chi ngân sách dẫn đến việc duy trì thói quen đòi hỏi hóa đơn chi tiết đầu vào thay vì đánh giá sản phẩm đầu ra. Về phía nhà khoa học, quy định dự toán phê duyệt là mức trần tối đa không được điều chỉnh khi giá cả thị trường biến động khiến họ ngần ngại nhận khoán toàn diện.
So sánh với mô hình quốc tế, tại Cộng hòa Liên bang Đức, dự toán chi trả thù lao cho cán bộ khoa học chiếm vị trí số 1 và hội đồng chuyên môn nắm quyền quyết định điều chỉnh ngân sách, thanh toán hoàn toàn qua tài khoản ngân hàng. Trong các dự án do AFD hay PLAN tài trợ, cơ chế giải ngân tập trung vào giám sát cột mốc và đánh giá trung gian linh hoạt, không áp đặt định mức mua sắm máy móc cứng nhắc. Dữ liệu khảo sát của luận văn có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện mức độ không áp dụng khoán trên 6 lĩnh vực khoa học và bảng đối sánh 4 nhóm chỉ tiêu tài chính giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế. Điều này khẳng định Thông tư 93 mới dừng lại ở mức giao quyền tự chủ một phần chứ chưa phải cơ chế khoán theo sản phẩm cuối cùng đích thực.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và bài học kinh nghiệm từ Khoán 100, Khoán 10 trong nông nghiệp cũng như Nghị định số 130/2005/NĐ-CP về khoán chi hành chính, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
-
Sửa đổi và hoàn thiện khung pháp lý về khoán trọn gói đến sản phẩm cuối cùng:
- Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính.
- Hành động: Ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư 93, quy định rõ nguyên tắc giao khoán trọn gói kinh phí gắn với hợp đồng đặt hàng nghiên cứu; bãi bỏ 100% yêu cầu nộp chứng từ thanh toán chi tiết từng linh kiện, vật tư tiêu hao thông thường.
- Mục tiêu và Lộ trình: Hoàn thành trong giai đoạn 2009-2010, đưa tỷ lệ đề tài áp dụng cơ chế khoán đạt trên 70% ở cấp Bộ và tỉnh.
-
Đổi mới quy trình lập dự toán và phân bổ ngân sách nghiên cứu:
- Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và các cơ quan chủ trì nhiệm vụ.
- Hành động: Thiết lập cơ chế thanh toán qua tài khoản chuyên dùng của chủ nhiệm đề tài mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc; cho phép tự động chuyển 100% số dư kinh phí hợp lệ sang năm tiếp theo mà không cần văn bản xin phép cấp trên.
- Lộ trình: Triển khai thí điểm ngay từ quý IV/2009 tại các Viện nghiên cứu trọng điểm quốc gia.
-
Nâng cao định mức thù lao lao động sáng tạo khoa học:
- Chủ thể thực hiện: Liên Bộ Khoa học và Công nghệ - Tài chính - Nội vụ.
- Hành động: Tái cấu trúc cơ cấu dự toán, nâng tỷ trọng chi thù lao lao động trí tuệ trực tiếp chiếm tối thiểu 40-50% tổng kinh phí đối với đề tài khoa học xã hội và nghiên cứu cơ bản; định kỳ 2 năm một lần tự động điều chỉnh định mức theo chỉ số trượt giá tiêu dùng.
- Lộ trình: Thực hiện từ đầu năm tài khóa 2010.
-
Chuẩn hóa tiêu chí nghiệm thu độc lập và chế tài minh bạch:
- Chủ thể thực hiện: Hội đồng khoa học các cấp và cơ quan quản lý chuyên ngành.
- Hành động: Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng đo lường sản phẩm (bài báo khoa học trên tạp chí chuyên ngành, văn bằng sở hữu trí tuệ, quy trình công nghệ được chuyển giao); áp dụng chế tài thu hồi từ 30% đến 100% kinh phí nếu nhiệm vụ không hoàn thành do lỗi chủ quan, đồng thời bảo vệ nhà khoa học trước các rủi ro khách quan.
- Lộ trình: Đồng bộ hóa trong toàn hệ thống đánh giá nhiệm vụ từ năm 2010.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính:
- Lợi ích: Tiếp cận hệ thống dữ liệu thực nghiệm gồm 139 phiếu khảo sát và phân tích so sánh các văn bản pháp lý (Thông tư 45, Thông tư 44, Thông tư 93).
- Ứng dụng: Thiết kế, sửa đổi các thông tư liên tịch về cơ chế khoán kinh phí và quản lý tài chính khoa học công nghệ theo hướng hiện đại.
-
Chủ nhiệm đề tài, nhà khoa học tại các Viện nghiên cứu và Trường đại học:
- Lợi ích: Nắm vững các quy định về quyền tự chủ tài chính, cơ cấu 5 nhóm mục chi dự toán và quy trình thanh quyết toán hợp đồng khoán chuyên môn.
- Ứng dụng: Xây dựng thuyết minh đề tài khoa học, tối ưu hóa phân bổ kinh phí nghiên cứu và bảo vệ quyền lợi thù lao chất xám hợp pháp.
-
Cán bộ quản lý khoa học và kế toán tại 63 Sở Khoa học và Công nghệ:
- Lợi ích: Thấu hiểu nguyên nhân gây tắc nghẽn giải ngân tại địa phương (nơi chi sự nghiệp khoa học chiếm khoảng 60% cho đề tài, dự án).
- Ứng dụng: Chuẩn hóa thủ tục kiểm soát chi tại Kho bạc, đơn giản hóa quy trình thẩm định dự toán và đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu quyết toán cấp tỉnh.
-
Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Quản lý KH&CN:
- Lợi ích: Sở hữu tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu chính sách, mô hình phân tích kinh nghiệm quốc tế và khung lý thuyết R&D.
- Ứng dụng: Phục vụ giảng dạy, viết luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và phát triển các công trình nghiên cứu mở rộng về kinh tế học khoa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao chính sách khoán theo Thông tư số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN chưa thực sự đi vào đời sống khoa học?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế khoán tại Thông tư 93 chưa triệt để, mới dừng lại ở việc giao quyền tự chủ một số mục chi nhưng vẫn khống chế trần dự toán tối đa và đòi hỏi kiểm soát hóa đơn đầu vào. Hơn nữa, 80,6% đơn vị được khảo sát chưa áp dụng do cơ quan tài chính địa phương thiếu văn bản hướng dẫn đồng bộ.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa Thông tư 93/2006 và Thông tư 45/2001 trong quản lý tài chính là gì?
Thông tư 45 bắt buộc chi đúng từng mục dự toán chi tiết và không được chuyển kinh phí thừa sang năm sau. Ngược lại, Thông tư 93 cho phép chủ nhiệm đề tài tự điều chỉnh các nhóm mục chi trong phạm vi khoán, chứng từ thanh lý hợp đồng lao động chỉ cần phiếu chi kèm xác nhận kết quả, đồng thời số dư tạm ứng được chuyển tiếp sang năm sau.
3. Kinh nghiệm khoán trong nông nghiệp và khoán hành chính gợi mở bài học gì cho nghiên cứu khoa học?
Từ thành công của Khoán 10 trong nông nghiệp và Nghị định 130/2005/NĐ-CP về khoán hành chính, bài học cốt lõi là phải trao quyền tự chủ tuyệt đối cho người lao động, xác định định mức dựa trên hao phí lao động trung bình của xã hội và thực hiện nghiệm thu, phân phối thu nhập hoàn toàn dựa trên sản phẩm cuối cùng.
4. Làm thế nào để định lượng sản phẩm đầu ra đối với các đề tài nghiên cứu cơ bản và khoa học xã hội?
Sản phẩm nghiên cứu cơ bản và khoa học xã hội cần được đo lường thông qua các chỉ số đầu ra cụ thể: số lượng bài báo công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín, báo cáo kiến nghị chính sách được cơ quan nhà nước tiếp nhận, tài liệu đào tạo sau đại học và các chuyên đề phân tích đạt chuẩn phản biện độc lập.
5. Trách nhiệm xử lý tài chính được quy định như thế nào khi đề tài nghiên cứu không hoàn thành mục tiêu?
Theo quy định, tổ chức và chủ nhiệm đề tài phải hoàn trả toàn bộ kinh phí chưa sử dụng. Nếu do nguyên nhân chủ quan, bên nhận khoán phải bồi hoàn tối thiểu không thấp hơn 30% số kinh phí đã sử dụng; nếu do nguyên nhân khách quan, mức thu hồi tối đa không vượt quá 10% tổng kinh phí đã giải ngân.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ chế khoán kinh phí trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chứng minh khoán theo sản phẩm cuối cùng là xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức.
- Kết quả khảo sát thực chứng trên 139 phiếu điều tra chỉ ra tỷ lệ thực thi Thông tư 93 còn rất khiêm tốn (19,4%), đồng thời khẳng định 100% ý kiến đồng thuận về sự cần thiết phải cải cách cơ chế quản lý tài chính khoa học.
- Đề tài chỉ rõ những bất cập lớn về định mức thù lao lao động trí tuệ khi tiền lương tối thiểu tăng 114,3% và lạm phát đạt 11,2%, tạo cơ sở thực tiễn để nâng cao mức chi trả cho các chuyên gia và nhà nghiên cứu.
- Hệ thống 4 giải pháp đề xuất mang tính đột phá về thể chế, quản lý tài khoản chuyên dùng, định mức thù lao và tiêu chí nghiệm thu độc lập, định hướng thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2009-2012.
- Nghiên cứu là nguồn tài liệu quý báu dành cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý và các nhà khoa học trên hành trình hiện đại hóa nền tài chính khoa học công nghệ quốc gia; hãy tham khảo và ứng dụng ngay các luận cứ của đề tài vào thực tiễn quản lý nhiệm vụ nghiên cứu.