phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển làng nghề Chƣơng 2: Thực trạng chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1.
Các khái niệm liên quan 1. Làng nghề Làng nghề đƣợc hình thành lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội. Theo sự phát triển của lực lƣợng sản xuất của nhân loại, phân công lao động dần đƣợc phát triển, hoạt động sản xuất thủ công nghiệp từ chỗ ban đầu là hoạt động sản xuất phụ trợ cho sản xuất nông nghiệp, đã dần đƣợc phân tách từ nông nghiệp để trở thành ngành nghề độc lập, từ đó hình thành nên các làng nghề. Quá trình phát triển của làng nghề là một quá trình lịch sử lâu dài, lúc đầu từ một vài gia đình rồi dần đến cả họ, sau đó phát triển ra cả làng và kế tiếp nhau truyền từ đời này qua đời khác, từ đó, hình thành những làng nghề thủ công truyền thống, gắn với tên làng, tên xã của nông thôn Việt Nam Nguồn: [38] 10 Hình 1.
Sự hình thành làng nghề ở vùng nông thôn Hiện nay, chƣa có khái niệm chính thức và vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề cũng nhƣ các tiêu chuẩn để công nhận làng nghề. Theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bànmột xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [11]. Làng nghề là mô hình sản xuất đặc thù ở nông thôn, nơi mà hầu hết mọi ngƣời dân trong làng đều hoạt động cho nghề và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Làng nghề còn đƣợc hiểu là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa [34].
Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm là nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phƣờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề. Song ở đây chƣa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá-xã hội một cách tích cực. Từ các quan niệm trên có thể rút ra khái niệm về làng nghề nhƣ sau: Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội, là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi 11 nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định. Ở Việt Nam, theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, làng nghề đƣợc công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc [11].
Chính sách công Thuật ngữ “chính sách” đƣợc sử dụng rất nhiều trong các tài liệu, sách báo, văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay chƣa có một định nghĩa, khái niệm thống nhất và đầy đủ về cụm từ này do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ nhiều góc độ tác động của chính sách, tùy theo quy mô và phạm vi tác động của từng loại chính sách. Chính sách đƣợc hiểu là quá trình tác động bằng các biện pháp, công cụ đa dạng, khác nhau của chủ thể quản lý vào đối tƣợng bị quản lý nhằm đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý mong muốn. Cách hiểu này tƣơng tự nhƣ định nghĩa về quản lý, đó là “quản lý là một quá trình vận động, trong đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý để đạt tới mục tiêu do chủ thể quản lý đƣa ra".
Nhƣ vậy, chính sách đƣợc xem nhƣ một công cụ của quá trình quản lý mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên khách thể nhằm đạt tới mục tiêu đã định. Quá trình triển khai chính sách là quá trình tác động của ngƣời quản lý lên đối tƣợng quản lý [22]. Một số định nghĩa khác về chính sách nhƣ [22]: - Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm 12 giải quyết một vấn đề (Anderson 1984); - Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà nƣớc nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ƣu tiên (Considine 1994); - Chính sách là một công việc đƣợc thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi (Considine 1994); - Chính sách là những sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế đã đề ra [45]. Nhƣ vậy, có thể hiểu chính sách là công cụ, phƣơng tiện hành động của chủ thể quản lý nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau để thúc đẩy phát triển một hệ thống kinh tế - xã hội với giới hạn không gian, thời gian theo một định hƣớng mục tiêu đã đƣợc xác định.
Chính sách đƣợc thể hiện dƣới các cấp độ: quan điểm, chủ trƣơng, các giải pháp, công cụ của chủ thể chính sách để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong khoảng thời gian nhất định. Đối tƣợng chịu sự tác động, điều chỉnh của chính sách rất đa dạng và khác nhau, nhƣng đều đƣợc xác định hƣớng phát triển chung do chủ thể của chính sách đƣa ra. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công, đƣợc đƣa ra bởi các học giả trong và ngoài nƣớc. - Chính sách công là những gì chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm (Dye, 1992) [22].
- Chính sách công là thoả thuận chính trị về những hành động hoặc không hành động, đƣợc thiết kế nhằm giải quyết, hoặc làm giảm nhẹ vấn đề trong nghị trình chính trị (Fischer 1995) [22]. - Chính sách công quyết định bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu những mục tiêu và các biện pháp nên đƣợc chọn lựa, nhằm mục đích giải quyết một vấn đề, hay một sự đổi mới (Dimock et al. - Chính sách công liên quan đến những gì chính phủ làm, tại sao, và với 13 kết quả gì (Fenna 2004) [22]. - Chính sách công là một tuyên bố mang tính quyền lực, về những dự định của chính phủ, dựa trên những giả thuyết về nguyên nhân và ảnh hƣởng, và đƣợc thiết kế, cấu trúc dựa trên những mục tiêu (Althaus, Bridgman & Davis 2007).
- Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành đƣợc cái gì (Clarke E. Cochran, et al, 1999); - Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003). Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể đƣợc nhìn nhận nhƣ sau: Trước hết, là chính sách của nhà nƣớc, của chính phủ (do nhà nƣớc, do chính phủ, do chính quyền địa phƣơng đƣa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nƣớc. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng nhƣ quản lý của khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế và cho xã hội.
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nƣớc, đƣợc nhà nƣớc sử dụng để: (i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tƣ; (ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trƣờng, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lƣờng năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công nhƣ ngân sách nhà nƣớc, tài sản công, tài nguyên đất nƣớc. 14 Tóm lại có thể hiểu chính sách công là tập hợp các quyết định quản lý có liên quan với nhau, do nhiều chủ thể quản lý nhà nước ban hành, để lựa chọn các mục tiêu và đưa ra các cách thức đạt mục tiêu nhằm giải quyết một vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. Chính sách phát triển làng nghề Có thể nói làng nghề với vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong phát triển kinh tế- xã hội ở các địa phƣơng nhƣ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đa dạng hóa kinh tế nông thôn, đồng thời giúp bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc… Chính vi vậy, làng nghề đƣợc các quốc gia chú trọng phát triển.
Các làng nghề hiện nay với những đặc điểm nổi bật cần phải đƣợc tạo điều kiện phát triển thông qua các chính sách phát triển hợp lý. Các đặc điểm của làng nghề hiện nay có thể kể tới nhƣ: - Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn.